BÀI CHỦ Thứ Sáu, 20/11/2009-11:18 AM
Số 156: Khoảng cách giàu nghèo

Chuyện bữa trưa 52.000 USD của tỷ phú người Nga - Roma Abramovich tương đương mức thu nhập trungbình/năm của một người dân Singapore, có vẻ như chẳng còn hấp dẫn nữa. Bởi cái sự giàu – nghèo vốn đã “xưa như trái đất”, chưa bao giờ thay đổi cho dù loài người vẫn khôngngừng đấu tranh vì sự công bằng và tiến bộ.


“Trong lịch sử, chưa bao giờ nhân loại đạt được một sự bình đẳng dù ở bất cứ một mức độ tương đối nào, nhưng những gì đang tồn tại, thực sự gây nên những mối lo ngại lớn”, đó là một kết luận của cuốn The World Economy: Historical Statistics– nghiên cứu lịch sử kinh tế thế giới 2000 năm qua.

Dễ dàng nhận thấy, mặc dù trình độ phát triển của thế giới ngày càng cao và những thành tựu kinh tế đạt được không hề nhỏ, nhưng xem ra phương thức phân chia các phúc lợi vật chất thời nay cũng không tiến bộ gì hơn trước. Bằng chứng là, 1 tỷ dân ở các nước giàu nhất thế giới hiện đang giữ tới 76%GDP toàn cầu; những quốc gia có mức thu nhập trung bình (3 tỷ dân) chiếm 20,7%; còn 2,4 tỷ dân ở các nước nghèo chỉ được 3,3%.

Tất nhiên, làm nhiều phải được hưởng nhiều, nhưng sự phân hóa về trình độ phát triển vô tình đẩy khoảng cách giàu nghèo trở nên mênh mông hơn bao giờ. Tại các nước công nghiệp phát triển, nơi đang cư trú khoảng 15% dân số thế giới, nhưng sản xuất ra tới 74,8 số hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu toàn cầu, đồng thời họ cũng tiêu thụ tới 86% hàng hóa và dịch vụ được làm ra. Như vậy, 75% dân số thế giới chỉ được sử dụng 24% lượng hàng hóa và dịch vụ toàn cầu.

Do vậy, khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển ngày càng gia tăng, nếu năm 1820 khoảng cách này là 3:1, sau 30 năm là 35:1 và đến năm2002 đã là 75:1. Theo số liệucủa WB và Forbes, tổng GDPcủa 41 quốc gia “đội sổ” trong bảng xếp hạng World Wealth Report (WWR) và đang phải è cổ với những món nợ nước ngoài, còn ít hơn gia sản của 7 người giàu nhất thế giới. Nhóm các nước đang phát triển, có số dân chiếm 78,2% dân số thế giới cũng chẳng khá hơn với món nợ khổng lồ khoảng 3.000 tỷ USD, không kể các khoản viện trợ hàng trăm tỷ USD/năm. Nhưng oái oăm ở chỗ, để có được một USD tiền viện trợ, các quốc gia này phải bỏ ra tới 25 USD để thanh toán nợ nần cả gốc lẫn lãi. Càng nghèo thì nguy cơ về những rắc rối liên quan tớiviệc thanh toán nợ nước ngoài càng đè nặng lên vai.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế gây kinh ngạc của Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như sự vững chắc của các nước thuộc nhóm G7 hiện cũng không thể nâng đỡ được đồng đều tất cả các con thuyền kinh tế. Trên toàn cầu, từ những nền kinh tế phát triển nhất như Mỹ và Nhật Bản đến những nền kinh tế đang phát triển, sự bất bình đẳng về thu nhập vẫn không thể ngừng tăng. Theo dự đoán của LHQ, tới năm 2010, dân số toàn cầu sẽ đạt mức 8,5 tỷ người, trong đó sẽ có khoảng 1 tỷ người sống với 1USD/ngày, còn con số sống bằng 2 USD một ngày sẽ là 2 tỷ người. Một viễn cảnh vẫn không tươi sáng gì!

“Bất bình đẳng toàn cầu”

Đằng sau sự văn minh của thế giới vẫn là thiên tai, ô nhiễm, dịch bệnh, nghèo cùng cực và thiếu ăn. Đằng sau sự hào nhoáng của các quốc gia đều là những mảng tối. Chiếc bánh kinh tế toàn cầu đã nở phồng lên theo tỷ lệ chưa từng thấy, nhưng đáng buồn là người giàu đang ăn hầu hết những lát bánh này. Họ dùng cả quyền lực để bảo đảm hưởng phần béo bở nhất và chỉ nhường phần rơi vãi cho người nghèo. Phân cực giàu - nghèo cũng trở nên quốc tế hoá.

Mỹ là một quốc gia giàu có và văn minh. Tuy nhiên, GS.Dani Rodrik của Đại học Harvard cho rằng, chính các luật lệ, quy tắc và thể chế đang thay đổi, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm tăng sự bất bình đẳng. Trước đây, thuế lũy tiến và các chính sách phúc lợi xã hội là thiết bị “giảm xóc” giúp giảm nhẹ những bất bình đẳng. Nhưng nay, nó chỉ đóng vai trò như một chất xúc tác, cơ cấu thuế trở nên ít công bằng hơn, chi phí công cộng còn ít công bằng hơn nữa. Tất cả những thứ đó đều mang lại lợi ích đáng kể cho những người vốn đã giàu có. Lúc kinh tế đi xuống là lúc bất bình đẳng được đẩy lên cao trào. Thu nhậpcủa mọi tầng lợp đều bị hao hụt, nhưng thay vì bị giảm lương như giới nhà giàu, những người làm công thường mất việc. Thậm chí mức đền bù mất việc cho một giám đốc điều hành cũng gấp 141 lần một công nhân trung bình (tăng so với 107 lần năm 1990).

Ở nơi khác, Ấn Độ hay Trung Quốc các cơ chế thuế thường cũng có lợi đối với những người tập trung của cải. Trên giấy tờ là một hệ thống thuế lũy tiến rất bài bản, nhưng thực tế người thực thi chỉ phải đóng một khoản giảm dần đáng ngạc nhiên, bởi những khoản này đã được biến hóa, giảm trừ theo một cách nào đó. TheoADB, khoảng cách thu nhập ở Trung Quốc đang gần bằng các quốc gia Mỹ Latinh và châu Phi vốn có mức bất bình đẳng rất cao.Và nó còn tiếp tục cao hơn nữa trong nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.

Theo báo cáo WWR, số người có tài sản trên 1 triệu USD ở Ấn Độ đã tăng 20,5% trong năm ngoái và số dân“triệu đô” hiện là 100.015 người. Những người giàu hiện có mọi dịch vụ để sử dụng theo ý muốn, từ các bệnh viện tốt nhất thế giới, cho tới những cửa hàng bán lẻ các mặt hàng cực kỳ đắt giá. Trong khi đó, đa số trong 1,1 tỷ dân Ấn vẫn đang sống nghèo đói, 45% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng vì… ngân sách chưa đủ để khắc phục.

Nghịch cảnh ở Zimbabwe là tiêu đề một bài báo của Timesonline cách đây không lâu. Trong đó có đoạn, “những người dân bình thường của Zimbabwe đã hàng năm trời chưa được ngửi mùi thịt, mùi bánh mỳ và kể cả mùi gạo, chứ chưa nói đến việc đủ tiền để tổ chức một thứ gọi là sinh nhật. Thế mà họ đang có nghĩa vụ đóng góp “sức của” cho một đại tiệc sinh nhật trị giá 300.000 USD của Tổng thống Mugabe. Bài báo cũng không quên nhắc đến Đệ nhất Phu nhân của nước này vừa kịp trở về dự lễ sinh nhật sau chuyến du lịch trị giá 92.000 USD.

Nhóm các quốc gia được cho là có sự đồng đều nhất về văn minh và trình độ phát triển – EU cũng không ngoài cuộc. Khủng hoảng tài chính làm bộc lộ rõ những điểm yếu mà vô hình trung đang làm phân rẽ EU thành khối của nhiều đẳng cấp khác nhau, nhiều cấp độ khác nhau và thành những phe nhóm thành viên có quan hệ khác nhau, giữa lợi ích riêng của thành viên và lợi ích chung của liên minh. Sự phân cực trong nội bộ bắt đầu từ mức đóng góp và lợi íchnhận về. Người ta nói rằng, trong thời gian tới, phía sau sự đồng thuận mà EU thường tán dương vẫn là sự phân cực âm ỉ sâu đậm và dai dẳng.

Việt Nam có chỉ số GINI - phản ánh sự chênh lệch giàu nghèo và tiêu dùng trong xã hội là 36,2, cao hơn những nước giàu có nhất trên thế giới như Na Uy (25,8), Nhật Bản (24,9).Chỉ số này chỉ thấp hơn Trung Quốc(40,3), Nga (45,6) - là những nướccũng đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam. Trong 5 năm trở lại đây, sự chênh lệch giàu nghèo tăng bình quân thêm gần 0,4lần/năm. Sự phân hóa này kéo theo sự bất bình đẳng trong hưởng thụ vàtiếp cận các dịch vụ xã hội. Báo cáocủa UNDP chỉ rõ tình hình an sinh xã hội đang thụt lùi. “Các hộ trong nhóm thu nhập cao nhất - nhóm 20% giàu nhất nhận được gần 40% lợi ích an sinh xã hội. Ngược lại, nhóm nghèo nhất chỉ nhận chưa đến 7%. Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ cấp y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ được 7%.

Giàu càng giàu, nghèo lại càng nghèo

Tất nhiên, không thể phủ nhận sự vươn lên của mỗi thành viên trong xã hội rất khác nhau, bằng chứng là các nước đứng đầu bứt hẳn lên so với những nước còn lại nhờ trình độ học vấn, tay nghề và những sự kết nối...Nhưng cũng giống như trong mộtquốc gia, sự tập trung của cải có xuhướng tăng lên, vì những người ở tầng lớp trên đang kiếm được nhiều tiền hơn từ công việc và từ những khoản đầu tư của họ. Với vị thế của mình, họ có quyền tiếp cận với các loại tài sản, cũng như các cơ hội để tiếp tục làm sinh sôi những khoản lãi cao hơn.

Trong khi đó, IMF mới đây lưu ý rằng thương mại tự do đã làm giảm bớt khoảng cách giàu - nghèo ở cấp độ toàn cầu, nhưng dòng tiền tệ đầu tư toàn cầu không bị hạn chế đã làm tăng xu hướng bất bình đẳng giàu -nghèo vì nó tạo nhiều cơ may cho những cá nhân đầu tư trên các thị trường thế giới, làm tăng nhịp độ đổi mới công nghệ nhưng hậu quả là công nhân bị trả lương thấp đi. Chẳng hạn, trong hơn một thập niên qua, sự hội nhập của Trung Quốc và Ấn Độ vào hệ thống thương mại toàn cầu đã bổ sung thêm hai tỷ công nhân vào lực lượng lao động trên toàn thế giới, vì vậy nó gây sức ép làm giảm đồng lương thực tế mà người lao động được hưởng.

Ở nhiều quốc gia, quá trình cổ phần hóa, tư nhân hóa được nhà nước phê chuẩn đã nhiều lần đẩy nhanh các tàisản có giá trị của nhà nước vào taynhững cá nhân có mối quan hệ tốt vớichính quyền, cho phép họ tự nhiên cóđược những nguồn tài sản kếch xùmột cách nhanh chóng... Trong khi đó, những người ở tầng lớp dưới có thể mãi mãi phải chờ đợi một “cơn mưa phùn” về mảnh đất vốn khô cằn của họ, vì đơn giản họ ở khu vực không thuận lợi để đầu tư. Thế mà cuộc khủng hoảng kinh tế còn khiến người nghèo, nghèo hơn nữa. Kimngạch xuất khẩu và nguồn vốn đầutư nước ngoài trực tiếp vào nhiềunước bị giảm sút. Hậu quả là cơ hội về việc làm, thu nhập thực tế và sức tiêu thụ đều giảm đi. Nền kinh tế có thể sẽphải đối mặt với tình trạng tăngtrưởng thấp trong thời gian dài.

Khi sự bất bình đẳng lên đến đỉnhđiểm hàng loạt xung đột xã hội sẽ phát sinh - đó là quy luật. Chỉ riêng một năm qua, Trung Quốc phải đối đầu với hàng loạt vụ biểu tình lớn nhỏ, tất cả đều bắt nguồn từ sự phẫn nộ của dân nghèo vì bị thu hồi ruộngđất một cách bất minh và bất bìnhtrước sự vô trách nhiệm của cácdoanh nghiệp công nghiệp đối vớimôi trường. Tại Mỹ, làn sóng phảnđối thương mại tự do đang tăng lên. Những tranh chấp về đất đai, đền bùvà ô nhiễm ngày càng nhiều…

Nhiệm vụ bất khả thi?

Sau nhiều cố gắng bất thành, người ta đành phải tin rằng, dù kinhtế phát triển nhanh hay chậm, vị trí của người giàu và người nghèo vẫn không thể cân bằng. Tình trạng cách biệt giữa người giàu và nghèo làđiều tự nhiên, nhất là trong một xã hội cho phép sự cạnh tranh. Nhiều nhà kinh tế học cho rằng, chúng ta không nên quan tâm đến khoảng cách giàu nghèo cho đến khi chấtlượng cuộc sống của mọi người trở nên tốt hơn. Nói cách khác, “chúng ta nên quan tâm đến phần bánh màngười nghèo nhận được là baonhiêu, chứ không phải là phần bánh họ nhận được bằng bao nhiêu so vớicủa Bill Gates”.

Lê Thanh Trúc

Ý kiến:

ADB: Lý do chính dẫn tới sự gia tăng về khoảng cách giàu nghèo trong những năm gần đây là sự không nhất quán trong đầu tư giữa khu vực thành thị và nông thôn, người dân ở thành phố được đào tạo tốt hơn và đời sống của họ cũng khấm khá hơn. Việc phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn bị hạn chế bởi các chính sách củachính phủ, cản trở đầu tư tư nhân.Tăng trưởng chỉ tập trung ở thành phố gây rạn nứt trong xã hội khi nhiều người dicư đổ về các thành phố và thiếu hụt đầu tư nước ngoài tại những khu vực hẻo lánh. Câu trả lời cho vấn đề này không phải là tìm cách đảo ngược dòng chảy của toàn cầu hóa mà phải đảm bảo tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn.

UNICEF: Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng tại những nền kinh tế bùng nổ ở châu Á – Thái Bình Dương, như Ấn Độ vàTrung Quốc, đang khiến nhiều bà mẹ và trẻ em tụt lại phía sau và khiến cuộc sống của họ gặp rủi ro.Chẳng hạn như, sự bùng nổ của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tư nhân dành cho tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển đã tác động xấu đến lĩnh vực y tế công. Phổ biến là tình trạng “chảy máu” nhân viên giỏi sang các bệnh viện tư hay ra nước ngoài. Rõ ràng, sự bất bình đẳng lớn về thu nhập, địa lý, giới tính và chủng tộc đang cản trở con đường sinh tồn và phát triểncủa trẻ. Việc mở rộng các dịch vụ y tế đến những người nghèo nhất trong vùng là chìa khóa để đạt được mục tiêu toàn cầu màLHQ đề ra là giảm 2/3 số trường hợp trẻdưới 5 tuổi tử vong vào năm 2015.

PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ: Khoảng cách giàu nghèo sẽ khó mà thu hẹp, ngược lại sẽ ngày càng giãn ra trong thời gian trước mắt, chí ít cũng là từ nay đến 2020.Từ nay đến năm 2020, chủ trương của chúng ta nên là: Giải phóng mọi năng lực làm giàu, thu hẹp diện người nghèo, biết ơn, đáp nghĩa những người có công, chăm lo những người neo đơn, rủi ro, bệnh tật...Đây là chủ trương vừa hợp quy luật, vừa hợp lòng dân. Với chủ trương này, thực sự sẽ phát triển lực lượng sản xuất; đồng thời mọi giai tầng trong xã hội đều được pháthuy và đều được quan tâm. Mặt khác, cũng không nên quan niệm: phân hóa giàu nghèo là động lực. Thực ra, phân hóa giàu nghèo là cái chúng ta phải chấp nhận, là hệ quả của chính sự phân phối công bằng: làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Đây mới thực sự là động lực đích thực.


Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt: Bạn tưởng khi chưa gia nhập WTO thì VN không có khoảng cách giàu nghèo? Có chứ. Tôi cho rằng càng phát triển thì khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Khi người ta nhận thức được rằng khoảng cách giàu nghèo là một tất yếu thì người ta sẽ không đau khổ, còn nếu khuyến khích người ta nhìn nhận một cách sai lệch về khoảng cách giàu nghèo thì sẽ có đấu tranh giai cấp và sẽ có cách mạng vàchúng ta lại cùng nhau nghèo đói.


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]

    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Số 193: Công nghệ phần mềm Số 192: An ninh khu vực
    Số 191: Lãng phí tài nguyên Số 190: Động lực G-20
    Số 189: Hành lang Đông-Tây Số 188: Điện năng Việt Nam
    Số 187: Thương mại thể thao Số 186: Thế chỗ ảnh hưởng
    Số 185: Giao thông cao tốc Số 184: Đầu tàu Đông Á

    Số 173: Cuộc chiến Châu Âu Số 172: Lãng phí đầu Xuân
    Số 169 + 170 + 171: Thập kỷ đầu tiên Số 168: Thực phẩm nguy hại
    Số 167: Một năm của Obama Số 166: Dự báo năm 2010
    Số 165: Vượt lên khủng hoảng Số 163 + 164: 10 sự kiện quốc tế và 10 sự kiện đối ngoại nổi bật năm 2009
    Số 161: Thảm họa khí thải Số 160: Biển đảo Việt Nam
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ