Sẽ rất buồn nếu một ngày nào đó vào năm 2020, người ta nói rằng, Việt Nam (VN) đã thất bại trong mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, từ góc độ kinh tế khách quan mà nói thì trong số các quốc gia đã thoát nghèo và có mức thu nhập trung bình chỉ có vài nước tiếp tục vươn lên trở thành quốc gia giàu có, hiện đại và có thế lực.
Xét trong sự phát triển của châu Á, cụ thể là sự thành công của Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và khu vực Đài Loan) và sự thất bại tương đối của Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Philippnes) cung cấp cho VN những bài học không thể không nghiên cứu thật thấu đáo.
Sau Thế chiến II, các nước Đông Á và Đông Nam Á đều trở lại cùng một vạch xuất phát từ mức thu nhập đến tỉ lệ tăng trưởng thấp. Chưa đầy 20 năm sau, các nước Đông Á đã trải qua giai đoạn phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch sử. Giờ đây, họ có quyền năng và vị thế cao, xã hội tiên tiến với những đô thị năng động về văn hóa, trật tự về xã hội và an toàn về vệ sinh, môi trường. Họ cũng đã và đang nhanh chóng xây dựng được nền giáo dục và y tế đẳng cấp thế giới cho người dân.
Ngược lại, ngay cả những giai đoạn phát triển nhanh nhất, các nước Đông Nam Á cũng chưa thể thực hiện được những sự chuyển hóa về mọi mặt. Đây là điểm khác biệt lớn, vì cho đến nay, nền kinh tế của Đông Nam Á vẫn dựa vào việc khai thác lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên. Quá trình đô thị hóa đang diễn ra hỗn loạn. Và dịch vụ giáo dục, y tế tốt là điều gì đó xa xỉ với phần lớn người dân.
Tóm lại, con đường của các nước Đông Á là con đường thẳng để đạt tới sự thịnh vượng, ổn định và kính trọng của cộng đồng quốc tế. Con đường của các nước Đông Nam Á gồ ghề hơn, và mất nhiều công sức hơn để đạt tới sự thịnh vượng như Đông Á.
Việt Nam đang ở đâu?
VN đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm Đổi mới, ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng lớn hơn trong cộng đồng quốc tế. Những năm qua, VN được biết đến như là điểm sáng của khu vực với sự phát triển năng động, ổn định hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế, chính trị toàn cầu, là điểm đến của các nhà đầu tư kinh doanh, học giả và khách du lịch quốc tế.
Không chỉ nổi tiếng với thành tích xóa đói giảm nghèo, VN còn được biết đến là một nước từng đứng bên bờ vực đói nghèo vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất nhì thế giới, nước sản xuất cà phê lớn thứ hai thế giới... VN cũng được nhắc đến với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong nhiều năm liền (khoảng 7,5%/năm). Các nhà đầu tư nước ngoài không ngại ngần đầu tư vào VN, với những dự án lên tới hàng tỉ USD... Khó có thể nghi ngờ việc VN đạt mục tiêu đứng trong hàng ngũ quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010, và trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại một thập niên sau đó.
Tuy nhiên, những thành công trên không phải là sự bảo đảm vững chắc cho tương lai. Bởi vì, nếu như những quyết định sáng suốt của Chính phủ trong việc giải phóng lực lượng sản xuất và hội nhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầu, đã đưa VN lên vị thế cao hơn, thì hệ quả tất yếu của những thay đổi này là nền kinh tế ngày nay đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi phải có những quyết sách mới phù hợp. Không ít người lo sợ rằng, VN đang lặp lại sai lầm của các nước Đông Á và Đông Nam Á. Vì có lúc VN vẫn bị bao trùm trong một bầu không khí thỏa mãn và lạc quan, được nuôi dưỡng bởi thành tích của nhiều năm Đổi mới.
Trên thực tế, VN có tốc độ phát triển kinh tế cao trong thời gian dài nhưng chưa bền vững, do các khó khăn về vốn, đào tạo, lao động, đất đai, chậm cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng kém, cộng thêm tình trạng tham nhũng luôn bị xếp ở mức độ cao của thế giới. Những khó khăn đó lại nhân lên gấp bội trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Bởi vậy, không thể lấy con số FDI cam kết cao để nói đến mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế. VN vẫn đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa. Trong Báo cáo phát triển VN 2009 của WB, VN đã tụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.
Thành công & Thất bại
Sự thất bại tương đối của các nước Đông Nam Á đều được đánh dấu bằng sự tụt dốc sau giai đoạn dài tăng trưởng nhanh. Thái Lan từng duy trì mức tăng trưởng 7,6%/năm trong gần 4 thập kỷ, Indonesia đã tăng trưởng 6,8%/ năm liên tục trong 3 thập kỷ. Vấn đề là sự suy giảm tăng trưởng đã xảy ra khi mức thu nhập trung bình của người dân còn tương đối thấp, ở Indonesia là 1.280 USD, Thái Lan là 2.700 USD. Trong khi đó, các nền kinh tế Đông Á đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời gian dài hơn và kết quả là đều có thu nhập bình quân đầu người vượt mức 15.000 USD/năm.
Khoảng 800 USD là thu nhập bình quân của người VN, nhưng gần đây, những nhận định bi quan về tăng trưởng, đã liên tục được WB, IMF, HSBC… công bố. Sau hơn 10 năm, tăng trưởng GDP của VN đã rớt xuống 6,23% vào 2008, sẽ giảm mạnh trong năm 2009 và được dự báo khó có thể lấy lại nhịp tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo. Con số gây sốc nhất thuộc về Economist Intelligence Unit (EIU) của The Economist là 0,3%.
Về thành công của Đông Á, họ thống nhất một quan điểm, đó là tầm nhìn chiến lược toàn diện cho sự phát triển nguồn lực con người, đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục ở tất cả các cấp. Ngay cả những chiến lược công nghiệp có định hướng của Chính phủ cũng được bắt đầu bằng việc đầu tư vào nguồn lực con người. Trong khi đó, giáo dục VN đang bị thế giới xếp ở top... lạc hậu, với hai điểm yếu cực lớn: thiếu tính cạnh tranh và thiếu tính sáng tạo. Khi hội nhập toàn cầu mà "máy cái" để tạo ra tri thức lại lạc hậu thì làm sao cạnh tranh?
Cơ sở hạ tầng (CSHT) đặt nền móng cho sự tăng trưởng kinh tế, mức độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của quốc gia. Để có một CSHT tốt và mức độ đô thị hóa nhanh đòi hỏi các nguồn lực kinh tế phải được sử dụng một cách hiệu quả. Nếu Tokyo và Seoul là động lực tăng trưởng và đổi mới kinh tế, thì thành phố ở một số nước Đông Nam Á đang oằn mình vì ô nhiễm, ùn tắc, đắt đỏ và ngập nước. Tuy nhiên, đầu tư công ở đây vẫn đang trở thành đối tượng của các hành vi trục lợi, với hàng loạt dự án CSHT chậm tiến độ, đội giá và chất lượng kém. Việc này không những làm cho dự án phát triển CSHT phá sản, mà gánh nặng chi phí tiếp tục đặt lên vai người dân và nền kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng nhanh của các ngành công nghiệp có tính cạnh tranh là chìa khóa để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cho các nền kinh tế có GDP trên đầu người trên 15.000 USD/năm. Tuy nhiên, nền công nghiệp của VN đang phụ thuộc nặng nề vào các sản phẩm sử dụng lao động - tương tự như hầu hết các nước Đông Á 30 năm trước. Việc này giúp tạo công ăn việc làm, thu về ngoại tệ và tích lũy kinh nghiệm điều hành các doanh nghiệp công nghiệp hiện đại. Nhưng nếu không thể vượt khỏi "hạ nguồn" của chuỗi giá trị toàn cầu thì một "nền kinh tế gia công" không thể vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, mà vẫn phải chật vật để có được một tỷ lệ lợi nhuận mỏng manh, trong khi đối thủ cạnh tranh thì ngày càng nhiều và lớn mạnh.
Một bài học quan trọng từ Đông Á là thương mại quốc tế không chỉ tạo ra sức ép cạnh tranh mà nó còn là một thước đo chính xác cho năng lực cạnh tranh của các công ty nội địa. Trái lại, sự bảo hộ của Đông Nam Á phổ biến ở nhiều ngành công nghiệp trong một thời gian khá dài, dẫn đến việc lãng phí những nguồn lực khổng lồ trong khi chỉ tạo ra những doanh nghiệp ỷ lại, thụ động và kém cạnh tranh. Ở VN, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra hơn 90% việc làm trong công nghiệp và gần 70% sản lượng thì phần lớn tín dụng và đầu tư của nhà nước lại được dành cho khu vực kinh tế quốc doanh.
Đài Loan đã tăng trưởng ngoạn mục 10% trong suốt gần 20 năm, trong khi chỉ cần đầu tư khoảng 26% GDP. Nếu so sánh với Đài Loan trong giai đoạn đó thì hiện nay VN đang phải tốn gần gấp đôi lượng vốn để tạo thêm được một đơn vị tăng trưởng. VN và các nước Đông Nam Á đã rất thành công trong việc huy động tỷ lệ đầu tư rất cao, nhưng lại thất bại trong việc lặp lại kỳ tích tăng trưởng của các nước Đông Á, trong đó nguyên nhân chủ yếu là tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư. Tham nhũng cũng là một thủ phạm khi các quỹ đầu tư công bị bòn rút và thay đổi mục đích sử dụng, hệ quả là chi phí kinh doanh bị đội lên cao. Nguyên nhân quan trọng khác là hoạt động tự do hóa tài chính được thực hiện quá sớm, trong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa sẵn sàng. Kết quả là sự xuất hiện của các khoản đầu cơ rủi ro và sự hình thành các loại "bong bóng".
Định vị để hành động
Sự cất cánh của VN chỉ mới bắt đầu, VN vẫn còn nghèo so với các nước Đông Nam Á và rất nghèo so với các nước phát triển ở Đông Á. Là người đi sau, VN có ưu thế là có thể học kinh nghiệm thành công và tránh vết xe đổ của các nước đi trước. Không có con đường nào đi tới công nghiệp hoá và phát triển mà không có những gập ghềnh khúc khuỷu. Năm 2008, VN đã trải qua những thăng trầm và gánh chịu những thiệt hại nặng nề. VN đang có rất nhiều kế hoạch, nhưng đi đôi với chúng phải là tư duy chiến lược và quyết tâm thực thi cao của chính phủ, các doanh nghiệp và người dân.
Tuy nhiên, "tình hình hiện nay chính là cơ hội tạo áp lực lớn cho Chính phủ, không chỉ đối phó với cơn khủng hoảng mà còn phải bình ổn xã hội và chính trị trong nước. Chính phủ buộc phải thay đổi phương thức cải cách kinh tế hiện nay, nhất là khi các đối tác kinh tế đã cảm nhận rõ được sự tụt dốc. Chính phủ cũng buộc phải chú ý đến các thách thức trong dài hạn như giáo dục, CSHT, chính sách và thể chế giám sát nền kinh tế, hệ thống tài chính, tham nhũng...", theo ông Justin Wood - Giám đốc khu vực Đông Nam Á của EIU.
Bỏ qua những khó khăn trong ngắn hạn, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho rằng, kinh tế VN chỉ suy giảm chứ không suy thoái, qua giai đoạn điều chỉnh này, triển vọng kinh tế VN đến 2020 rất lý tưởng. Những phương án đối phó với khủng hoảng mà Chính phủ đang thực hiện đang có những ảnh hưởng tích cực. 4 kênh tác động chính của khủng hoảng tới VN là xuất khẩu, thu hút FDI, thu hút kiều hối và du lịch sẽ không trầm trọng như các nước khác. Quá trình công nghiệp hóa vẫn đang tiếp diễn, củng cố CSHT, mức lương tăng, đời sống phồn vinh hơn, nền kinh tế tiếp tục được cải tổ, nguồn nhân lực trẻ... là những lý do để họ có thể lạc quan.
Không có tài nguyên, không có đất, người lại ít, như Singapore còn có thể tạo được điểm nhấn lớn trên bản đồ kinh tế thế giới. VN với rất nhiều lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có, tại sao lại không thể tìm được một thế mạnh độc đáo? Làm được việc đó là đã bước đầu định vị được đất nước trong tương lai. Đó là lời khuyên của Michael Porter - "cha đẻ" của Chiến lược cạnh tranh.
Tạm quên đi những tin xấu về sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, cùng với nguy cơ suy thoái ngày càng cao và những lo lắng về nền kinh tế, người VN còn có tham vọng và niềm tin, đó được xem như là những yếu tố không thể thiếu để dẫn đến thành công.
Thanh Trúc
|
“Để có tầm nhìn tương lai, xác lập vị thế mới cho đất nước trên bản đồ phát triển của thế giới, chúng ta cần hiểu rõ mình đang ở đâu, và đang đóng vai trò gì trong cộng đồng quốc tế. Không còn nghi ngờ gì nữa, trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, Việt Nam đã tiến được những bước dài trên con đường phát triển của mình. Việt Nam đã thực sự trở thành một phần không thể tách rời của cộng đồng kinh tế thế giới, của cộng đồng quốc tế. Và hơn thế nữa, Việt Nam đã tự tin gánh vác ngày một nhiều hơn những trọng trách mà cộng đồng quốc tế tin cậy giao phó”, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã phát biểu mở đầu Hội nghị Quốc tế về Kinh tế Đối ngoại lần thứ II, diễn ra ngày 17-18/3, với chủ đề “Định vị Việt Nam trong tương lai”.
Nội dung thảo luận tại Hội nghị xoay quanh các chủ đề nhánh bao gồm: Kinh tế tri thức Việt Nam, Phát triển nền công nghiệp Việt Nam, Phát triển cơ cấu hạ tầng của Việt Nam và Cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, tiền tệ Việt Nam. Những phát biểu, các bài tham luận tại Hội nghị đã giải thích sự đúng đắn mà Hội nghị đã chọn thảo luận về 4 chủ đề này.
Phát triển cơ cấu hạ tầng
Ông Ben Kheong, Giám đốc Điều hành khu vực Đông Nam Á, Ascendas: Việt Nam có một số điểm yếu như hệ thống hành chính quan liêu, tham nhũng, cơ sở hạ tầng (CSHT) yếu kém. Việt Nam cần xử lý nghiêm túc trong những năm sau. Cần phải tận dụng được nguồn vốn để xây dựng CSHT của mình. Cần phải cải thiện hơn nữa CSHT. Tăng cường hệ thống cơ sở đào tạo nghề và giáo dục đại học. Cải thiện hệ thống luật pháp. Rất nhiều khâu trung gian để có được đất, khi có được đất là liên quan đến giải phóng mặt bằng. Chính phủ Việt Nam có kế hoạch nào để phân bổ đất cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản, phát triển khu công nghiệp?
Ông Trương Tấn Viên - Vụ trưởng Vụ KHĐT - Bộ Giao thông vận tải: Chính phủ Việt Nam rất coi trọng và có chủ trương đẩy nhanh tốc độ xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải. Đến năm 2020, hệ thống giao thông vận tải Việt Nam phải cơ bản thỏa mãn nhu cầu vận tải đa dạng của xã hội với mức tăng trưởng cao, đảm bảo chất lượng, giá thành hợp lý; kiềm chế tiến tới giảm sự gia tăng tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường.
* Patrick Regis, Chủ tịch Rolls Royce Việt Nam: Nhu cầu đầu tư phát triển CSHT tại Việt Nam là rất lớn. Dự báo tới năm 2025 cần từ 30-40 tỉ USD. Nhưng đầu tư của Chính phủ Việt Nam vào CSHT chưa cao. Trong bối cảnh Viện trợ phát triển chính thức (ODA) đang giảm, cần phải có sự hợp tác của các doanh nghiệp tư nhân vào lĩnh vực này. Theo tính toán của WB, đầu tư tư nhân vào CSHT năm 2002 chỉ chiếm 28% nhưng đến năm 2010 có thể sẽ là 44%. Hiện tốc độ xây dựng các dự án chậm, sự phối hợp các chính sách chưa hiệu quả. Ví dụ xây dựng cảng nhưng chưa có đường đến cảng. Công tác quản lý cũng có vấn đề, nên để xảy ra lãng phí. Để thu hút được đầu tư, Việt Nam phải cạnh tranh để có nguồn vốn từ bên ngoài. Đó là việc gửi tín hiệu tốt đến các nhà đầu tư. Có quy trình, thủ tục, biện pháp khuyến khích để các dự án hấp dẫn hơn so với các nước khác như Trung Quốc, Indonesia. Phải có cơ chế thu phí hợp lý, giá cả phản ánh chi phí, cho phép các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh; phải có biện pháp phối hợp tốt hơn trong quá trình thực hiện dự án, có cơ chế thu hút công nghệ; cải cách trong lĩnh vực cổ phần hóa, các chủ dự án phải có quy trình hợp lý; các nhà đầu tư có thể quản lý vận hành dự án trong nhiều năm.
Phát triển nền Công nghiệp việt nam
Các thách thức của nền công nghiệp Việt Nam: Nguy cơ tụt hậu xa hơn so với nhiều nước, mà trước hết là so với một số nước ASEAN còn lớn; Hệ thống luật pháp còn thiếu đồng bộ và chậm được hoàn thiện; Sự cạnh tranh quốc tế hết sức khốc liệt trong khi điểm xuất phát của công nghiệp Việt Nam còn thấp; Tốc độ tăng trưởng cao đang tạo áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng như điện, nước, hệ thống giao thông, bến cảng, thông tin liên lạc... ; Tình hình kinh tế-chính trị thế giới có nhiều diễn biến khó lường trong khi khả năng đối phó của ngành công nghiệp Việt Nam còn kém. (trích Định hướng chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020)
Kinh tế tri thức Việt Nam
*Michael Gallagher, Giám đốc Điều hành, Khu vực các nền kinh tế mới nổi, Aon Asia: Chúng tôi hoạt động ở 20 nước với hàng ngàn công nhân và bắt đầu ở Việt nam năm 1993. Năm 2004, chúng tôi đã đưa ra bảo hiểm quản lý rủi ro. Hoạt động của chúng tôi ở Việt Nam khá tốt. Một trong những điểm đáng buồn là tay nghề và kỹ năng của lao động Việt Nam vẫn chưa được nâng cao đáng kể. Nỗ lực để thay đổi và điều chỉnh khuôn khổ pháp lý rất chậm. Các nhà đầu tư có xu hướng chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào lĩnh vực ít rủi ro. Rất nhiều loại hình tiền tệ đang được sử dụng đồng thời. Việt Nam không bị tác động của hoạt động chính trị như những nước khác nhưng khi đến Việt Nam, chúng tôi thấy có những điểm khác biệt về pháp luật như tòa án, thuế. Nhiều vấn đề về pháp lý chưa rõ ràng. Kỹ năng cơ bản của người lao động Việt Nam chưa được hình thành như thu thập dữ liệu. Còn có vấn đề sức khỏe của công nhân Việt Nam. Họ chưa có ý thức đầy đủ về an toàn lao động.
Cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, tiền tệ Việt Nam
* Ông Nguyễn Văn Bình, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Với độ mở cửa nền kinh tế lớn hơn nhiều so với các nước trên thế giới và khu vực (tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu lên tới trên 150% GDP), kinh tế Việt Nam không tránh khỏi chịu tác động bởi những diễn biến phức tạp của môi trường kinh tế thế giới. Năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, quản lý kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn, nổi lên là tình trạng lạm phát và nhập siêu tăng mạnh, thị trường tài chính, tiền tệ có những xáo trộn, tình trạng tăng trưởng kinh tế chậm lại, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy giảm và tăng trưởng kinh tế trong nước chậm lại.
* Ông Paul Leech, Giám đốc Quốc tế, Ngân hàng HSBC khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Việc cải cách khu vực tài chính và tiếp tục cải cách kinh tế thông qua các chính sách biến Việt Nam thành điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
* Justin Wood, Giám đốc khu vực Đông Nam Á, Corporate Network: Kinh tế Việt Nam bắt đầu từ sự nghiệp Đổi mới năm 1986 khi nguyên tắc về kinh tế tập trung đã không hoạt động tốt nữa. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng tốt, duy trì sự tăng trưởng cao và giúp hàng triệu người đói nghèo trong toàn quốc. Tình hình chính trị của Việt Nam ổn định là môi trưởng tốt để tiếp tục cải cách và tăng trưởng. Một trong những cải cách quan trọng là chính sách mở cửa. Là thành viên WTO, Việt Nam đang mở của cho các nhà đầu tư nước ngoài và đó là những gì mà các nhà đầu tư kỳ vọng vào Việt Nam.
Ngọc Mai (ghi) |