Nếu đầu năm 2009, theo IMF “liều thuốc” kích thích kinh tế thế giới tối thiểu chỉ là 1.200 tỷ USD (2% GDP toàn cầu) thì đến nay nhu cầu thực đã lên tới hơn 4.000 tỷ USD. Như vậy, để đối phó với khủng hoảng, thế giới đã và đang sử dụng một nguồn lực quá lớn, tốc độ phản ứng cực nhanh. Tuy cách thức ứng xử của mỗi nước khác nhau, nhưng đều chung một vai trò chủ công là sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN).
Thuốc quá liều?
Tại Mỹ, ông Obama quyết tâm đưa ra một ngân sách sẽ dẫn tới sự tăng trưởng kinh tế lớn bằng cách chuyển từ kỷ nguyên vay tiền - chi tiêu sang kỷ nguyên tiết kiệm - đầu tư và coi đó là cách tốt nhất để giảm thâm hụt NSNN trong dài hạn. Tuy nhiên, theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ thâm hụt ngân sách năm tài khóa 2009 có thể sẽ là 1.800 tỷ USD (13% GDP). Nhìn lại chiều dài lịch sử, Mỹ thoát khỏi Thế chiến thứ hai với món nợ là 110% GDP, bước vào cuộc suy thoái lần này là 45% GDP và gói kích thích 787 tỷ USD kéo dài hai năm sẽ lấy mất gần 3% GDP mỗi năm.
Phần lớn giá trị các gói kích thích bình quân của khu vực đồng Euro là 1-1,5% GDP và họ vẫn bám nguyên tắc thâm hụt NSNN không quá 3% GDP. Tuy nhiên, trội hơn cả có gói kích thích của Đức chiếm 2,6% GDP, còn Anh sử dụng 250 tỷ Bảng để xử lý hệ thống ngân hàng và gói kích thích 30 tỷ Bảng từ NSNN và chấp nhận thâm hụt ngân sách năm 2009 lên tới 12% GDP. Nhưng theo Chủ tịch NHTW châu Âu, can thiệp sâu rộng kiểu Mỹ sẽ khó có thể giúp gì cho châu Âu mà chỉ làm cho hệ thống tài chính trở nên rối loạn và mang lại nhiều tác dụng phụ như: lạm phát, tăng gánh nặng thuế, thâm hụt NSNN mà thôi...
Nhật Bản dù bị ám ảnh bởi “thập niên 1990 thất thoát và thất bại”, khi chi hơn 2.000 tỉ USD vào các công trình công, lúc đó, Nhật lâm vào cảnh nợ nần lớn nhất trong lịch sử OECD, với thâm hụt NSNN lên tới 10% - 12% GDP, nhưng cũng chấp nhận kích cầu tháng 12/2008 là 488 tỷ USD và gần đây là 255 tỷ USD.
Thực tế cho thấy, việc sử dụng NSNN để ứng phó với khủng hoảng là cần thiết, song thực tế thành công trong lịch sử kích cầu bằng tăng chi tiêu Nhà nước là không nhiều. Không chỉ Nhật Bản đã không thành công mà cả châu Âu (1974-1984) khi dùng liều thuốc J.M.Keynes kích thích ồ ạt vào nền kinh tế song chỉ nhận được lạm phát cao, kinh tế càng suy thoái.
Gánh nặng kích cầu
Ở Việt Nam, thời kỳ từ 2003 đến hết năm 2008, số vốn giải ngân đạt 59.812 tỷ VND, bằng 54% kế hoạch giai đoạn 2003-2010. Năm 2008, giải ngân 21.342,4 tỷ, bằng 73,4 % kế hoạch. Gánh nặng NSNN càng lớn khi tổng mức đầu tư tăng do nhiều dự án kéo dài cùng với sự biến động của giá cả: năm 2003, tổng vốn trái phiếu Chính phủ là 63.064 tỷ, đến 2006 lên 110.000 tỷ, đến nay dự kiến 230.496 tỷ đồng. Tình trạng giải ngân chậm, công trình kéo dài, gây lãng phí, hiệu quả thấp, làm tổng mức đầu tư tăng và không có điểm dừng…
Yếu tố cơ bản và quan trọng nhất gây ra lạm phát năm 2008 là đầu tư kém hiệu quả; không vì phải chống suy giảm kinh tế mà chấp nhận những dự án đầu tư, nhất là đầu tư NSNN và DNNN kém hiệu quả. Đầu tư Nhà nước kém hiệu quả không chỉ là nguyên nhân sâu xa của lạm phát mà còn làm nền kinh tế kém sức cạnh tranh và gây hậu quả lâu dài, cơ cấu kinh tế què quặt.
Dự báo cuối năm 2009, lạm phát thế giới sẽ tăng cao với lượng tiền khổng lồ được các nước đổ ra để cứu nền kinh tế. Còn ở VN do hiệu ứng gói hỗ trợ lãi suất được phát huy, phát hành khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ, kể cả phương án vay NHNN để kích cầu nên nguy cơ lạm phát cao là hiện hữu. Nếu lạm phát quay trở lại Việt Nam sẽ cần tới 1-2 năm để gia cố lại nền tảng phát triển.
NSNN Việt Nam đã luôn ở trạng thái thâm hụt gần 5% GDP, nguồn thu phụ thuộc quá lớn vào yếu tố bên ngoài; không thể không nhắc lại bài học “khủng hoảng thập kỷ 80” mà nguyên nhân sâu xa và trực tiếp là thâm hụt NSNN cao. NSNN là công cụ chủ yếu chặn đà suy giảm tăng trưởng nhưng đang đối mặt với nhiều vấn đề nan giải, hụt thu từ 29.000 đến 63.000 tỷ đồng, trong khi sức ép chi rất lớn...
Ngoài 1 tỷ USD hỗ trợ lãi suất, thì các phương án ra vốn nhà nước nước vay trên 60.000 tỷ đồng - ứng với thâm hụt NSNN 8,48% GDP. Việc xác định qui mô kích cầu qua NSNN phải tính đến các nguy cơ, các cân đối lớn ở tầm vĩ mô, sức chịu đựng của NSNN, đặc biệt là sức hấp thụ vốn, hệ số ICOR. Việt Nam không khủng hoảng, song kích gần 5 tỷ USD (khoảng 5,4% GDP) thì thuộc diện cao nhất thế giới. Ngoài ra phải tính tới các kịch bản, nếu kinh tế thế giới phục hồi chậm thì gói kích cầu lớn và đầu ra bế tắc dễ lâm vào suy thoái và lạm phát cao. Hoặc giới hạn của kích cầu là xuất khẩu và thị trường nội địa thì vẫn chưa thỏa đáng vì mặc dù VN có một số lợi thế song không thể mơ hồ về tăng mạnh xuất khẩu hoặc tăng ngay nội nhu năm 2009. Nguồn kích cầu không phải là tiền cho không, nhà nước cần phải xem hiệu quả mới đầu tư, nếu không, hậu quả sẽ rất nặng nề trong thời gian tới. Vấn đề trung tâm đặt ra là phải tái cấu trúc nền tài chính quốc gia, gia cố ngay cơ chế tài chính, thuế khoá và tín dụng đã bị méo mó, biến dạng lớn bởi hàng loạt các biện pháp tạm thời, điều chỉnh bất qui tắc diễn ra từ năm 2007 đến nay. Cùng với đó, cần cơ cấu lại và hoàn thiện thể chế giám sát hệ thống tài chính - tiền tệ, thị trường tài chính.
Tuy nhiên, ngoài những điểm chung (giảm lãi suất, thuế, tăng đầu tư nhà nước...) thì gói kích thích kinh tế của ta có điểm đặc thù nổi bật là “cơ chế hỗ trợ lãi suất tín dụng ở mức 4%” bằng vốn NSNN thông qua hệ thống ngân hàng. Ưu thế nổi trội của phương thức này là “hệ số khuếch đại” lớn: hỗ trợ 17.000 tỷ VND (1 tỷ USD) tạo ra hiệu ứng vay vốn gần 500.000 tỷ VND (30 tỷ USD), giúp hệ thống ngân hàng có điều kiện để lành mạnh hoá, tăng khả năng thanh toán. Vấn đề đặt ra làm thế nào để với lượng tiền rất hạn chế nhưng vẫn có thể chi tiêu hợp lý và hiệu quả cho các ưu tiên đặt ra. Đầu tư cho hạ tầng, giải quyết nút thắt cổ chai cho tăng trưởng là đúng, nhưng sẽ tốt hơn nếu tạo ra chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào khu vực này vừa đỡ tiêu tốn số tiền ngân sách eo hẹp, vừa phát triển được hạ tầng mà không tạo thêm gánh nặng cho NSNN.
Bài toán khó
Việc mở rộng đối tượng hưởng hỗ trợ lãi suất 4% sang cả các khoản vay trung và dài hạn để phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng- được WB, IMF đánh giá rất cao. Tuy nhiên, IMF lưu ý gói kích thích mạnh có thể ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của NSNN, còn ADB dự báo thâm hụt NSNN của VN năm 2009 tới 9,8% GDP, nợ công và nợ có đảm bảo của nhà nước gần 45,8% GDP. Vì vậy thách thức trong ngắn hạn và dài hạn là chặn được sự suy giảm tăng trưởng và thúc đẩy tăng trưởng nhưng vẫn kiểm soát được thâm hụt tài khóa và không làm tăng lạm phát.
Các câu hỏi đang được đặt ra là: Nguồn kích cầu và đối tượng được hưởng? Vay, ứng trước thế nào? Gói kích cầu đang thực hiện, cũng cần có thời gian để đánh giá song có những vấn đề cần giám sát ngay để có điều chỉnh chính sách phù hợp.
Sự cần thiết tăng cường giám sát của Quốc hội và Chính phủ là thống nhất đều nhằm cái đích là xác định qui mô kích cầu hợp lý và quan trọng hơn là đảm bảo sao cho hiệu quả. Thủ tướng đã chỉ đạo phải công khai minh bạch gói kích cầu và phải có biện pháp chủ động kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để ngăn ngừa hành vi trục lợi, nhưng nên kiểm tra, kiểm soát như thế nào để tránh trục lợi?
Trước mắt, có thể yêu cầu các ngân hàng phải công khai hoá đầy đủ, cập nhật trên các trang website của mình về địa chỉ, đối tượng, qui mô vay vốn ưu đãi của các doanh nghiệp. Biện pháp này tạo ra sự giám sát rộng rãi của Nhà nước, NHNN, công luận xă hội, báo chí và ngay cả các cổ đông, người lao động của doanh nghiệp vay vốn ưu đãi... biết rõ doanh nghiệp họ được vay bao nhiêu, nhằm mục đích gì và đầu tư vào đâu..
Vậy đâu là hướng đi phù hợp để tránh lạm phát lần hai và thoát nhanh khỏi khủng hoảng? Nếu bội chi ngân sách đạt 8% GDP thì dư nợ của Chính phủ sẽ ở mức khoảng 40% GDP, tuy vẫn nằm trong giới hạn an toàn nhưng đây là mức thâm hụt ngân sách rất cao và những năm tiếp theo nếu không giảm được bội chi ngân sách thì sẽ ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia. Việc kìm hãm bội chi ngân sách đòi hỏi tổng thể các biện pháp để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung trong đó có các giải pháp kích cầu.
TS. Lê Hải Mơ
Phó Viện trưởng
Viện Khoa học Tài chính
|
Ý kiến:
TS. Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội
Chúng ta đang biến gói kích cầu ngắn hạn thành những chính sách dài hạn. Nếu tung quá nhiều tiền ra đầu tư, cộng với chính sách tài khoá, tiền tệ nới lỏng trong một thời gian dài sẽ khiến tỷ lệ bội chi ngân sách cao, dẫn đến nguy cơ tái lạm phát. Chúng ta phải hết sức tránh rơi vào vòng xoáy: Lạm phát- suy giảm kinh tế- kích cầu- lạm phát cao.
Cần tiếp tục tăng cường quản lý thu chi ngân sách và sử dụng linh hoạt các nguồn thu từ thuế, khai thác tốt các nguồn thu, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chi tiêu công và cơ cấu lại chi cho hợp lý, giảm những khoản chi mang tính bao cấp, đẩy mạnh sang cơ chế thị trường để giảm dần gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
TS. Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm đầu tư tư nhân hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai, làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của Chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách, song song với việc giảm chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện nguồn thu, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (hiện là 40%) vào các nguồn thu không bền vững như dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản để thu hẹp thâm hụt ngân sách cũng là một phương án nên tính đến.
TS. Lê Đăng Doanh – Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế TW
Có 2 mô hình về việc phát triển kinh tế thị trường, mô hình kiểu Mỹ và kiểu Trung Quốc. Triết lý của kinh tế thị trường là để cho mọi người tự do quyết định, tự do hoạt động kinh doanh theo pháp luật, nhưng mà các đòn bẩy kinh tế nó ràng buộc người ta ghê lắm. Cho nên, trong kinh tế hiện đại, sự đối nghịch chủ thợ cũng bị đòn bẩy kinh tế ràng buộc. Thợ thì nghe chủ là đương nhiên, nhưng chủ ngày nay cũng phải lắng nghe thợ, vì thợ trong một chừng mực nào đó chính là “sức cầu” thị trường. Phải nghe theo tiếng “thở” của thị trường.
TS. Nguyễn Quang A – Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển (IDS)
Việc thắt chặt chính sách tiền tệ của Việt Nam trong thời gian vừa qua, giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại, kiểm soát lạm phát… cho thấy, chỉ có Chính phủ mới có những chính sách kiểm soát tầm vĩ mô như vậy. Vai trò của bàn tay Nhà nước là rõ rồi, không phải bàn cãi, nhất là những nỗ lực trong thắt chặt chính sách tài khóa, tức là chi tiêu công của Chính phủ, chi tiêu của các DNNN. Nếu làm tốt được điều này và vài điểm khác, như trợ giúp người nghèo, giúp đỡ các DNNVV để họ có thể vực dậy thì có thể Việt Nam có cơ hội phục hồi lại nhanh chóng.
TS. Trần Văn Giao - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Xử lý bội chi ngân sách Nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Nếu Nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền và đưa ra lưu thông để xử lý bội chi ngân sách, thì sẽ gây ra lạm phát. Đặc biệt, khi nguyên nhân lại là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây “tăng trưởng nóng” và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia.
Hoặc nếu chọn phương án vay nợ cả trong và ngoài nước thì sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài và làm giảm dự trữ ngoại hối, làm cạn dự trữ quốc gia, dẫn đến khủng hoảng tỷ giá.
Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của ngân sách Nhà nước cho các thời kỳ sau... |
Bài cùng chủ đề:
Smith nhường chỗ cho Keynes?