BÀI CHỦ Thứ Tư, 24/06/2009-11:17 PM
Số 135: Nguy cơ tái nghèo
Việt Nam được thế giới thừa nhận là một điển hình về thành tích xóa đói giảm nghèo (XĐGN). Tuy nhiên, nguy cơ tái nghèo đang trở thành hiện thực bởi tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và những bất cập của Chương trình 135. TG&VN dành chùm Bài chủ số báo này - số 135 - để giới thiệu các vấn đề liên quan cùng bạn đọc.


Trong các cuộc khủng hoảng KT-XH, người nghèo bao giờ cũng chịu tổn thương đầu tiên, và nặng nề nhất. Ngay cả khi kinh tế phát triển, người nghèo dù được hưởng lợi, nhưng lại rất ít, so với những bộ phận còn lại của xã hội. Nguy cơ tái nghèo đang hiển hiện đòi hỏi có sự thay đổi các chính sách cho phù hợp.

Trước nguy cơ tái nghèo

Theo số liệu của Bộ LĐ-TB&XH, đến cuối năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc chỉ còn 8,5%, nhưng do ảnh hưởng suy giảm kinh tế trong nước và cùng với đó là thiên tai, dịch bệnh liên tục trong thời gian gần đây, năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo đã lên tới 12,5%, nhóm hộ cận nghèo gia tăng rất mạnh. Trong số đó, không ít hộ từ xóa nghèo lại tái nghèo. Điều này cũng khẳng định rằng Việt Nam nằm trong nhóm những nước có nguy cơ rủi ro cao nhất về tình trạng tái nghèo, theo đánh giá của World Bank.

Lịch sử xóa đói giảm nghèo cho thấy các hộ dân đã được báo cáo xoá đói giảm nghèo để rồi chỉ một thời gian ngắn sau lại tiếp tục…tái nghèo. Ví dụ, trong năm 2002, Quảng Nam có 10.629 hộ thoát nghèo thì lại có 9.387 hộ tái nghèo; Lâm Đồng có 2.948 hộ thoát nghèo thì lại có 4.510 hộ tái nghèo... Như vậy, nếu tính bình quân, có đến 60 - 70% tái nghèo, tức là tình trạng nghèo đói tăng cấp số cộng so với kết quả xóa đói giảm nghèo. Còn hiện tại, theo Sở LĐ-TB&XH Quảng Ngãi từ đầu năm đến nay tỉnh này có trên 400 hộ tái nghèo nâng số hộ nghèo lên con số 83.500 theo chuẩn mới.

Đấy là tại các tỉnh có kinh tế khó khăn, còn tại các thành phố lớn, tái nghèo cũng xuất hiện. Theo kết quả đợt rà soát mới nhất tình hình hộ nghèo trên địa bàn TP.HCM của Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo và việc làm TP cho thấy từ đầu năm đến nay, TP đã phát sinh thêm 186 hộ nghèo (có thu nhập bình quân dưới 6 triệu đồng/người/năm), nâng tổng số hộ nghèo TP lên 17.219 hộ, chiếm 1,35% tổng số hộ dân TP.

Tái nghèo cũng đang trở thành mối lo toàn cầu. Trong một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy Việt Nam nằm trong số 40/107 nước đang phát triển có nguy cơ bị ảnh hưởng cao bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Theo đó tăng trưởng kinh tế năm 2009 chậm sẽ làm khoảng 46 triệu người không thoát được nghèo, với thu nhập ở mức 1,25 USD/ngày, và khoảng 53 triệu người khác sẽ vẫn nằm dưới 2 USD/ngày.

Nguyên nhân của tái nghèo

Theo giải thích của Bộ LĐ-TB&XH là vì, mức độ đầu tư vốn của nhà nước so với kế hoạch và yêu cầu còn thấp, sử dụng vốn chưa hướng vào những nguyên nhân nghèo đói bức xúc nhất; thu nhập của hộ cận nghèo còn bấp bênh; đã và đang xảy ra tình trạng ỷ lại vào chính sách ưu đãi và sự đầu tư của nhà nước và sự hỗ trợ của cộng đồng... Tuy nhiên, có lẽ vấn đề xóa nghèo chưa thật sự hiệu quả là thiếu chính sách vĩ mô hợp lý để kích thích được sự phát triển chung của xã hội.

Nhiều ý kiến khác lại cho rằng bản chất vấn đề nằm ở các chính sách XĐGN. Các chính sách luôn hướng từ trên xuống theo một giải pháp tồn tại mấy chục năm nay: rót vốn cho người nghèo để họ có thêm tiền để thoát nghèo (theo tiêu chí). Còn việc người nghèo sử dụng đồng vốn đó như thế nào, bản thân người nghèo thụ hưởng các chính sách XĐGN như thế nào, tâm lý người nghèo trước các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ra sao... vẫn chưa được đánh giá, thẩm định đúng mức, thậm chí không hề được quan tâm.

Chính sách XĐGN luôn được coi như một chính sách hành chính chứ chưa hẳn là một chính sách xã hội. Các báo cáo thành tích luôn đính kèm thành tích XĐGN, điều đó dẫn đến thực tế là rất nhiều người nghèo được xóa nghèo trên giấy, trong khi thực tế cuộc sống nghèo của họ không một chút thay đổi dù có thêm những khoản hỗ trợ. Do đó, khi có những tác động từ biến động tình hình kinh tế - xã hội (thiên tai, dịch bệnh, lạm phát...) đến những biến động trong chính gia đình (bệnh tật, thay đổi công việc...), người nghèo rơi vào tình hình khó khăn hơn. Các chính sách XĐGN cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp hiệu quả. Và đây là nguyên nhân chính làm phát sinh hộ nghèo, tái nghèo cũng như gia tăng khoảng cách giàu nghèo, kể cả ở những địa phương luôn được đánh giá là “làm tốt và có hiệu quả nhất” các chính sách XĐGN.

Tại miền Trung, nguyên nhân tái nghèo còn do… thiên tai. Thực tế này cũng là tình hình chung của khu vực. Năm nào miền Trung cũng bị bão lũ trong mùa đông và hạn hán trong mùa hè. Tất nhiên, việc sống chung với thiên tai dường như vẫn còn là bài toán nan giải. Vấn đề di dời những ngôi nhà nằm dọc theo vùng sạt lở, vùng trũng bị lũ lụt uy hiếp chưa thực hiện rốt ráo. Còn tại các thành phố lớn nguyên nhân chính được cho là do tình hình lạm phát, chỉ số tiêu dùng (CPI) tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chi tiêu của người nghèo, dẫn đến nguy cơ tái nghèo, phát sinh hộ nghèo mới.

Chính sách trợ giúp: Người nghèo phải là chủ thể

Năm 2008, trước những ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế, lần đầu tiên, Chính phủ có Quyết định 81/QĐ-TTg hỗ trợ các hộ nghèo: 200.000 đồng/người, bình quân mỗi hộ nghèo được nhận tối đa 1 triệu đồng để đón tết cổ truyền Kỷ Sửu 2009. Một quyết định cực kỳ có ý nghĩa, tại phiên họp thường kỳ đầu năm, bàn về KT-XH năm 2009, Chính phủ đã cam kết: Kinh tế suy giảm, nhưng mục tiêu an sinh xã hội phải được đảm bảo, người nghèo phải được quan tâm đầu tiên.

Ngày 28/12/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết 30a hỗ trợ đầu tư phát triển giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 61 huyện nghèo có 797 xã tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Từ khi thai nghén, đến khi được phê chuẩn chỉ trong vòng 8 tháng! Đó là một kỷ lục đối với một chính sách lớn dành cho các xã nghèo có thời gian thực hiện 11 năm (2009-2020) cần nguồn vốn đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Cùng với hệ thống các chính sách giảm nghèo đang hiện hành (Chương trình quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, chương trình 135 đầu tư hạ tầng KT-XH các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, giai đoạn II, 2006-2010, NQ 30a được kỳ vọng khi triển khai sẽ là cú đột phá mạnh vào thành trì đói nghèo nhất của cả nước - những vùng đất với đa phần là đồng bào các dân tộc thiểu số cùng sinh sống, dù đã đang thụ hưởng các CT 135, 134, chương trình xóa đói giảm nghèo gần 10 năm, nhưng vẫn rất nghèo, thậm chí nhiều vùng còn đói nghèo cùng cực, khốn khó!

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh “Nghị quyết là sự tiếp nối của các Chương trình giảm nghèo quốc gia, CT 134, 135, nhưng ở tầm cao hơn: Các nhóm chính sách được thiết kế để hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo không chỉ cải thiện cuộc sống, mà còn có thể sinh lợi vươn lên thoát nghèo bền vững từ chính mảnh đất họ đang sinh sống, chính sách trợ giúp của NQ 30a, phải lấy hộ nghèo là chủ thể, lắng nghe ý kiến của hộ nghèo, bám sát tình hình vận động của thực tiễn để ra quyết sách đúng, trúng…”.

Hộ nghèo ở 797 xã thụ hưởng NQ 30a đều nằm trên diện tích đồi núi, đất rừng, nhận giao khoán chăm sóc trồng rừng, nhưng lại chưa sống được bằng nghề trồng rừng, đó là một sự bất hợp lý. Do vậy, nhóm chính sách được thiết kế tổng thể theo hướng: Người nghèo khi nhận khai hoang trồng rừng, cây công nghiệp, cây lương thực… được cấp tiền, cấp gạo và được hỗ trợ hoàn toàn miễn phí giống cây con, được truyền giảng kỹ thuật khuyến nông-lâm-ngư và được thụ hưởng hoàn toàn tất cả các sản phẩm do họ làm ra. Bên cạnh đó, NQ 30a cũng phân kỳ đầu tư mạnh các hạng mục đầu tư cơ sở hạ tầng trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nhà công vụ dành cho giáo viên cắm bản, trung tâm đào tạo hướng nghiệp, dạy nghề miễn phí cho người nghèo đi xuất khẩu lao động trên địa bàn 61 huyện nghèo.

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã yêu cầu phải “thiết kế lại các chính sách giảm nghèo” tại Hội nghị tổng kết Chương trình 134 về chính sách cấp đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Hiệu quả từ các chính sách của Nhà nước dành cho các tỉnh nghèo, hộ nghèo, người nghèo, đến đâu phụ thuộc rất lớn từ khâu thiết kế, hướng dẫn thực hiện có sát hợp tình hình của địa phương hay không? Điều này, ai cũng rõ, nhưng có một bất cập, không chỉ với nhóm chính sách XĐGN, mà còn ở các chính sách điều hành kinh tế khác: Khâu phản biện điều chỉnh, dự báo những vướng mắc nảy sinh khi triển khai, còn rất thiếu và yếu, điều này đã dẫn đến việc thực hiện thấy vướng ở nhiều khâu, bên cạnh đó quá trình chịu trách nhiệm sửa đổi của các Bộ, ngành liên quan cũng lại… rất chậm. “Độ trễ của chính sách”- cụm từ mà tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước ai cũng biết. Còn hành động?

Như vậy, với chính sách dành cho XĐGN, tùy theo nguồn lực và từng thời điểm tình hình KT-XH của đất nước để các cơ quan quản lý tham mưu soạn thảo chính sách mới trình Quốc hội, Chính phủ xem xét phê chuẩn. Sự liên thông dọc từ trên xuống dưới, liên thông ngang giữa các Bộ, ngành trong hoạch định, thiết kế chính sách, tính phản biện trước một chính sách mới, khả năng kế thừa… tạo hướng đi mới cho các chính sách phát triển giai đoạn sau, còn quá nhiều việc phải bàn. Nhưng trước tiên, cần phải đổi mới tư duy cách làm, thiết kế, quản lý vận hành các chính sách XĐGN.

Nguyễn Thanh Phúc

Quan niệm - Ý kiến:

TS. Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT

…Trong 3 năm qua (2005-2007), Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ, trong đó một số kết quả nổi bật như xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói, phổ cập giáo dục tiểu học, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, cung cấp các dịch vụ cho nhóm người nghèo, tăng cường sức khỏe bà mẹ và trẻ em, an sinh xã hội, thiết lập đối tác toàn cầu vì phát triển. Bước sang năm 2008, tuy gặp nhiều khó khăn, Chính phủ Việt Nam đã đề ra 8 nhóm giải pháp về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

Trần Minh Hồng
Phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Đồng Tháp:

Qua rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2009 mới đây, cả tỉnh Đồng Tháp vẫn còn 50.326 hộ cận nghèo, với 211.369 nhân khẩu, tỷ lệ 13,26%, trong khi tổng số hộ nghèo tính đến cuối năm 2008 (đã phúc tra lại) chỉ còn 21.695 hộ, chiếm tỷ lệ 5,72%. Đồng Tháp không có hộ thiếu đói, nhưng nghèo vẫn còn ở phía trước, dù có diện tích lúa nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản khá lớn. Có vẻ như mâu thuẫn, nhưng lại là thực tế, lúa nhiều thóc gạo lắm, nhưng cái nghèo lại bắt nguồn từ chính…nông nghiệp. Nhiều năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở/ngành và 12 huyện/thị chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhưng trên thực tế tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn lớn, nguồn thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ vẫn rất khiêm tốn. Làm nông nghiệp như ở Đồng Tháp và các tỉnh kế bên, theo tôi chỉ có thể khá, nhưng người nông dân làm giàu được từ chính hạt lúa thật khó. Người ta nói làm giàu từ nông nghiệp, nhưng là với những doanh nghiệp thu mua, sản xuất, chế biến lúa gạo xuất khẩu thôi, còn đa phần bà con sinh kế bằng nông nghiệp vẫn còn quá nghèo.

Lĩnh vực giáo dục, đồng bằng sông Cửu Long vẫn là “vùng trũng” của cả nước, điều này liên quan đến dân trí và nhận thức tự vươn lên của hàng vạn hộ nghèo. Có nhiều chính sách hỗ trợ, có vốn vay từ Nhà nước, nhưng không biết làm ăn ra sao, cho vay vốn tạo việc làm, học nghề, nhưng chắc chắn độ rủi ro với nhóm người nghèo rất cao. Chính vì vậy, tôi cho rằng phải làm đồng bộ giữa Giáo dục và Dạy nghề cho các hộ nghèo, đặc biệt với con em họ, mới hy vọng đổi đời thoát nghèo cho họ…

TS. Hoàng Kim Phúc
 Đại học Oxford

Chính phủ Việt Nam vừa lên kế hoạch chi 320.679 tỷ đồng trong vòng 12 năm để dạy nghề nông thôn. Thời gian gần đây, báo chí Việt Nam và quốc tế dự báo về tỷ lệ nghèo và tái nghèo đói tại Việt Nam sẽ tăng nhanh do khủng hoảng kinh tế. Từ ý thức được vấn đề tới việc tìm ra những chính sách, chiến lược dài hạn để đưa nông thôn Việt Nam đi lên là thách thức lớn, đặc biệt khi những vấn nạn như: suy giảm diện tích canh tác do đô thị và công nghiệp hóa, sa mạc và mặn hóa đất đai, thảm họa thiên nhiên do mất rừng cục bộ, biến đổi khí hậu toàn cầu... cộng với sự thất bát lợi nhuận nông phẩm do những chính sách vĩ mô sai lầm và làn sóng công nhân thất nghiệp quay trở lại nông thôn gần đây do khủng hoảng,... đang khiến tình hình ngày càng trầm trọng.

Với điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng, nền tảng tri thức chung như Việt Nam hiện nay sẽ là ngây thơ khi nghĩ rằng cứ rót kinh phí là có thể đào tạo đại trà một lớp nông dân có những am hiểu về những kỹ thuật nông nghiệp hiện đại. Mục tiêu là đào tạo những đối tượng mà bản thân họ và gia đình muốn làm giàu từ hoạt động nông nghiệp. Một lựa chọn đầu vào phù hợp và cấu trúc ba năm cường độ cao sẽ là phù hợp và đạt được mục đích. Năm học đầu sẽ trang bị những kiến thức cơ bản chung, gồm Sinh học đại cương, Nông nghiệp đại cương, Hóa hữu cơ đại cương, Thổ nhưỡng và công nghệ cải tạo đất, Môi trường, Thông tin và kinh tế nông nghiệp, Thống kê và kế toán, Sinh lý trồng trọt, Sinh lý chăn nuôi.

Đây là những công nghệ đang được sử dụng rộng rãi, hiệu quả trong sản xuất ở nhiều nước tiên tiến, nhưng ở Việt Nam do cách đào tạo của nền giáo dục và chính sách nông nghiệp quan liêu nên tới nay vẫn chỉ gặp ở các viện nghiên cứu hoặc đại học, mặc dù nguyên tắc của các công nghệ này là đơn giản và đã được nghiên cứu đầy đủ.


Đánh giá về chương trình XĐGN của Việt Nam,

Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) cho rằng: Mặc dù đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững suốt nhiều năm và đạt nhiều kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo nhanh, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng. Để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đã cam kết, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng miền đang còn quá chênh lệch giữa nông thôn - thành thị. Hiện có tới 64% số người nghèo tập trung ở vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền trung. Nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói do chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh trong nông nghiệp và chịu sự tác động của suy giảm kinh tế trong nước.


Bài cùng chủ đề: Các nước chống nghèo


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]




    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0
    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ