Những thành công
Thành công lớn nhất mà vị Tổng thống thứ 44 của lịch sử nước Mỹ đã làm được là chỉ trong một thời gian hết sức ngắn ngủi ông đã thay đổi được đáng kể hình ảnh nước Mỹ trong con mắt cộng đồng quốc tế. Chính sách cứng rắn, mang nặng tính đơn phương của chính quyền tiền nhiệm khiến cho ngay cả các đồng minh của nước Mỹ cũng trở nên e dè, thậm chí khó chịu và hậu quả là chính nước Mỹ bị rơi vào thế bất lợi. Bắt đầu từ tuyên bố tại Cairo tháng 3/2009 đến những chuyến công du gặp gỡ từ những đồng minh NATO đến những đối tác quan trọng như Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và những khu vực nóng bỏng như Iraq, Tổng thống Obama đã cho thấy một chính sách thay đổi nhiều so với người tiền nhiệm, một chính sách cởi mở, thân thiện và sẵn sàng đối thoại.
Những hoạt động ngoại giao liên tục của Chính quyền Obama đã góp phần quan trọng cải thiện bầu không khí quốc tế căng thẳng trước đó. Ghi nhận những đóng góp của ông, đồng thời mong muốn ông sẽ có những nỗ lực tiếp theo trong thời gian tới để có thể tạo ra sự thanh bình cho cộng đồng, Ủy ban giải thưởng Nobel vì hòa bình đã quyết định trao giải năm 2009 cho Obama (ông đã vượt lên hơn 200 ứng viên, một con số ứng viên kỷ lục).
Thành công tiếp theo của Obama phải kể tới việc ông đã cải thiện được quan hệ với một loạt các nước lớn, đặc biệt là với Nga và Trung Quốc. Quan hệ Nga – Mỹ đã xấu đi rất nhiều trong giai đoạn Bush-Putin. Quyết định dừng kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa tại Séc và Ba Lan có thể là một nhân nhượng quan trọng đầy dũng cảm của chính quyền Obama nhưng đổi lại ông đã phần nào tạo dựng được lòng tin từ phía người đồng cấp Medvedev. Đây cũng là tiền đề vô cùng quan trọng để hai bên bước vào đàm phán về một hiệp định START mới. Đồng thời, sự ủng hộ của Nga cũng sẽ giúp ích rất nhiều cho Obama trong việc đạt được những giải pháp đối với vấn đề hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên.
Tuyên bố “ủng hộ sự vươn lên của Trung Quốc” của Tổng thống cũng là một nước cờ ngoại giao khôn khéo. Nó không những giúp làm giảm bớt sự nghi ngại của các nhà lãnh đạo Trung Quốc về tuyên bố “coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược” trước đó của Bush, đồng thời như một lời “động viên khôn khéo” thúc đẩy Trung Quốc phải có trách nhiệm hơn nữa trong các công việc quốc tế, trước hết là việc tham gia giải quyết khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Vô hình chung, Trung Quốc sẽ phải chi ra nhiều hơn để xứng tầm với vai trò mới. Như vậy, trong quan hệ với các nước lớn, Tổng thống Obama đã bước đầu tạo dựng được một nền tảng hợp tác theo hướng tiếp cận mới, đó là chia sẻ trách nhiệm thực sự trong các vấn đề quốc tế.
Tổng thống Obama cũng phần nào tạo được uy tín trong các vấn đề quốc nội. Tuy thời gian vừa qua là chưa đủ, nhưng ông đã và đang từng bước vực dậy được nền kinh tế Mỹ sau thời gian lâm vào khủng hoảng. Chỉ trong vòng 10 tháng cầm quyền, chính quyền Obama đã khôi phục lại được 1,6 triệu việc làm. Nhiều đánh giá lạc quan của các nhà kinh tế cho rằng, kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu phục hồi vào cuối năm nay. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công này là do sự quyết đoán của ông Obama, đặc biệt trong việc bổ nhiệm, sử dụng người, như trong trường hợp với Chủ tịch FED ông Ben Bernanke. Việc Thượng viện vừa thông qua kế hoạch cải cách y tế, một vấn đề mà cựu tổng thống B.Clinton đã thất bại năm 1993, cho thấy Obama đã đạt được sự tín nhiệm nhất định. Nhìn chung, ông Obama đã làm được một khối lượng công việc mà nhiều tổng thống trước đó phải mất 1, thậm chí cả 2 nhiệm kỳ mới đạt được.
Những vướng mắc
Một trong những điều tệ hại, thường được ví như căn bệnh mãn tính của các tổng thống tiền nhiệm đó là sự sai lệch giữa những lời hứa trước bầu cử và những việc làm sau khi đắc cử. Tổng thống Oabama cũng chịu nhiều chỉ trích, thậm chí vì thế mà chỉ số uy tín của ông còn bị sụt giảm dưới 50%, vì những lời hứa chưa thành hiện thực. Người dân Mỹ trông đợi chính quyền mới sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn thế (điều này cũng dễ hiểu trong bối cảnh nạn thất nghiệp tăng hơn 10%). Việc chính quyền Obama đã sử dụng phần lớn gói kích cầu 787 tỷ USD vào việc cứu trợ các ngân hàng lớn cho thấy mức độ ổn định trở lại của hệ thống tài chính là chưa cao. Hơn thế, đây cũng chỉ là những biện pháp có tính chất “chữa cháy”, chính phủ chưa cho thấy một đường hướng rõ ràng giúp kinh tế Mỹ vượt ra khỏi nguy cơ tái khủng hoảng. Người dân Mỹ vẫn ngóng đợi một “New Deal” (chính sách mà Tổng thống Roosevelt đưa ra vào những năm 1930 đã giúp nước Mỹ thoát khỏi Đại khủng hoảng) của chính quyền Obama.
Vụ để sổng tên không tặc vừa qua khiến Tổng thống Obama phải triệu tập một cuộc họp khẩn cấp liên quan tới 14 cơ quan tình báo an ninh cho thấy nước Mỹ vẫn trong tình trạng bất an thế nào. Dường như việc tập trung khắc phục khủng hoảng kinh tế đã làm chính quyền Obama không có được sự tập trung cần thiết trong lĩnh vực an ninh. Rất có thể, cũng như người tiền nhiệm Bush, chính quyền Obama thực sự chưa tìm ra được một giải pháp nào hữu hiệu hơn trong việc ngăn chặn những vụ tấn công khủng bố vào chính nước Mỹ. Vụ việc này cũng sẽ có những tác động xấu không nhỏ tới cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới ở Hạ viện.
Chính quyền Obama cũng đang tỏ ra khá lúng túng trong việc tìm kiếm một giải pháp thích hợp cho Vùng Vịnh. Ông vừa khẳng định sẽ thực hiện đúng cam kết là sẽ rút quân đội Mỹ ra khỏi Iraq trước năm 2012 nhưng đồng thời lại điều thêm 30.000 quân đến Afghanistan. Không biết Tổng thống Obama sẽ xoay trở thế nào trên chiến trường chống Al Queada khi mới đây lại xuất hiện thêm những khu vực nóng khác là Yemen và Somali.
Trên thực tế, những tuyên bố kêu gọi đối thoại của Tổng thống Obama chưa thuyết phục được chính phủ Iran hay CHDCND Triều Tiên ngồi vào bàn đàm phán. Việc tiếp tục chính sách “cây gậy và củ cà rốt” của chính quyền Obama đối với các nước này vô hình chung lại càng tăng thêm sự nghi ngờ về những mục đích thực sự của Mỹ. Những tuyên bố kêu gọi đối thoại chung chung mà không đưa ra được một lộ trình cụ thể rõ ràng khiến ngay cả đồng minh thân cận Israel cũng không hài lòng. Tiến trình hòa bình Trung Đông vốn đã đầy cam go, phức tạp do đó để có được bước đột phá cần những hoạt động cụ thể hơn của Tổng thống Obama.
Một trong những bế tắc nhất của chính quyền Obama trong một năm vừa qua chính là việc tháo gỡ những bế tắc trong thương mại. Để khắc phục khủng hoảng kinh tế, chính quyền Obama đã phải dựa vào sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng quốc tế, trước hết là các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên, song hành với những hoạt động này, Mỹ lại đang tăng cường các chính sách bảo hộ mậu dịch. Điều này chỉ có thể giải thích rằng, chính quyền Obama vẫn đang loay hoay trong việc giải quyết các vấn đề thâm hụt cán cân thương mại, nợ nước ngoài và đảm bảo công ăn việc làm cho người dân Mỹ.
Thời gian tới, Chính quyền Obama có quá nhiều vấn đề phải tháo gỡ. Trước hết là đảm bảo tạo thêm công ăn việc làm nhằm hạ bớt chỉ số thất nghiệp cho người dân Mỹ. Tổng thống Obama chắc chắn sẽ phải có những cải cách trong công tác bảo đảm an ninh cho công dân Mỹ, trước hết là đối với an ninh nội địa. Đối với các vấn đề quốc tế, Tổng thống Obama sẽ phải nỗ lực hơn nữa để đáp ứng sự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế khi trao cho ông giải thưởng Nobel vì hòa bình. Cũng vậy, những vấn đề hạt nhân của Iran và CHDCND Triều Tiên cũng cần phải tìm ra giải đáp cụ thể trong thời gian tới. Trong khi đó, tháo gỡ các vấn đề tại Trung Đông cũng sẽ là một thách thức không nhỏ đối với Obama. Song, khó khăn hơn cả đối với chính quyền Obama là tạo dựng được một sự ổn định trong các mối quan hệ quốc tế nhằm chứng minh cho cộng đồng quốc tế thấy một nước Mỹ thực sự có thiện chí “thay đổi”.
TS. Đỗ Sơn Hải
Học viện Ngoại giao
|
Năm 2009: Mỹ điều chỉnh chiến lược theo hướng nào?
Lên cầm quyền cách đây một năm, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược và triển khai chính sách đối ngoại mới theo hướng linh hoạt, mềm dẻo, thực dụng. Tuy mục tiêu chiến lược không thay đổi, nhưng cách tiếp cận đã được điều chỉnh căn bản nhằm thích ứng với môi trường địa chiến lược mới. Để kiến tạo mô hình quan hệ đối tác mới, Chính quyền Obama củng cố quan hệ với các đồng minh chiến lược, đối tác truyền thống và mở rộng đối tác mới, tập hợp lực lượng thông qua các khuôn khổ hợp tác đa phương để cùng đối phó với những thách thức toàn cầu.
Quan hệ Mỹ - Trung theo hướng hợp tác thực dụng, tìm cách “trấn an nhau về mặt chiến lược”, thỏa hiệp trên một số vấn đề cụ thể nhằm tập trung vào hợp tác theo hướng “thực chất, sâu sắc và mở rộng hơn” trên nhiều lĩnh vực nhưng kết quả đạt được còn hạn hẹp. Mặc dù mặt cạnh tranh và kiềm chế địa chiến lược vẫn ngầm diễn ra gay gắt, hai nước cố tìm cách giữ ổn định quan hệ, xử lý các bất đồng một cách khôn khéo, thực dụng, tránh va chạm trực diện.
Quan hệ Mỹ - ASEAN theo hướng “can dự mạnh hơn”. Mỹ thừa nhận Đông Nam Á có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt và ASEAN là “hạt nhân và động lực chủ đạo cho các cơ chế hợp tác khu vực”. Cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - ASEAN lần đầu tiên ngày 15/11/2009 thể hiện một sự can dự mới cao hơn mang tính lịch sử của Mỹ với khu vực Đông Nam Á. Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Mỹ tăng cường can dự với Đông Nam Á; nhấn mạnh sự cần thiết mở rộng trao đổi cấp cao về các vấn đề cùng quan tâm. Mỹ ủng hộ các cơ chế hợp tác hiện có ở khu vực như APEC, ARF.
Quan hệ Mỹ - Nga theo tinh thần “thẳng thắn, tôn trọng và ghi nhận quan điểm của nhau”. Trong tuyên bố chung sau cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Nga ngày 1/4/2009, hai bên nhất trí đánh giá thời kỳ 2 nước nhìn nhau như kẻ thù đã qua lâu, sẵn sàng vượt khỏi tâm lý của thời kỳ Chiến tranh lạnh và khởi động một nghị trình hợp tác mới, thực chất nhằm tăng cường ổn định chiến lược, an ninh quốc tế và cùng đối phó với những thách thức toàn cầu, đồng thời giải quyết những khác biệt một cách cởi mở, thẳng thắn trên tinh thần tôn trọng và ghi nhận quan điểm của nhau. Mỹ nhận thức rõ xử lý tốt quan hệ với Nga có ý nghĩ quyết định đến chiến lược mới của Mỹ vì Nga là cường quốc hạt nhân duy nhất có tiềm lực tương đương với Mỹ; là thành viên thường trực HĐBA LHQ, có lãnh thổ nằm ở cả 3 vùng địa chiến lược quan trọng, nơi định hình lợi ích của Mỹ trong nhiều năm tới.
Quan hệ Mỹ - Nhật là “hòn đá tảng trong chính sách Châu Á - Thái Bình Dương”. Mỹ luôn khẳng định Nhật Bản là đồng minh quan trọng số 1 của Mỹ tại khu vực, dựa trên cơ sở các giá trị chung về dân chủ và chia sẻ lợi ích. Một trong những quan chức nước ngoài đầu tiên mà ông Obama gặp tại Nhà Trắng sau khi nhậm chức là Thủ tướng Nhật Bản Aso (24/2/2009); Nhật Bản cũng là chặng dừng chân đầu tiên trong chuyến công du nước ngoài của Ngoại trưởng Clinton đến châu Á tháng 2/2009; Bộ trưởng quốc phòng Gates đã đến Nhật Bản bàn về quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật tháng 10/2009; Tổng thống Obama cũng chọn Nhật Bản là điểm khởi đầu cho chuyến thăm châu Á 8 ngày.
Quan hệ Mỹ - Hàn Quốc tiếp tục là quan hệ đồng minh chiến lược bền vững nhất. Chuyến thăm Hàn Quốc của ngoại trưởng Clinton tháng 2/2009, cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Hàn tại Washington ngày 16/6 và chuyến thăm Hàn Quốc của Tổng thống Obama ngày 18-19/11/2009 vừa qua cho thấy Hàn Quốc là “đồng minh lịch sử trung thành nhất” của Mỹ và hai bên cam kết mở rộng và nâng cấp liên minh Mỹ - Hàn từ quan hệ đồng minh chủ yếu về quân sự sang liên minh chiến lược toàn diện trên cấp độ toàn cầu.
Quan hệ Mỹ - Ấn Độ tiếp tục được đẩy mạnh: Chuyến thăm Ấn Độ của ngoại trưởng Clinton ngày 17/7/2009 và việc Tổng thống Obama đón tiếp Thủ tướng Manmohan Singh tại Nhà Trắng với nghi lễ trọng thể nhất ngay sau chuyến thăm Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng mà Chính quyền Mỹ dành cho quan hệ với Ân Độ. Kết quả lớn nhất của chuyến thăm Ân Độ của ngoại trưởng Clinton là việc chính thức ký kết hiệp ước quân sự Mỹ - Ấn, theo đó, Mỹ sẽ bán các loại vũ khí tối tân cho Ấn Độ. Hợp tác hạt nhân cũng được đẩy mạnh với việc Ấn Độ dự định nhập từ Mỹ 8 lò phản ứng hạt nhân mới đến năm 2012. Về an ninh, Mỹ không thể ổn định tình hình Nam Á mà không có sự hậu thuẫn của Ấn Độ.
Xuân Đỉnh (t/h) |