BÀI CHỦ Thứ Sáu, 15/01/2010-12:09 PM
Số 165: Vượt lên khủng hoảng
LTS: Sẽ là hợp lý hơn nếu coi 2009 là năm bình ổn trở lại của kinh tế thế giới, chứ không phải năm đỉnh điểm của suy thoái kinh tế toàn cầu. Cuộc đại suy thoái đã tác động đến tất cả các nền kinh tế trên thế giới với mức “tàn phá” khác nhau và làm thay đổi nhiều điều, tuy nhiên, “cái khó ló cái khôn” một số nền kinh tế lại vượt lên từ khủng hoảng. Điều gì giúp họ có được sự “miễn dịch” và sức mạnh như vậy? TG&VN xin dành chùm Bài chủ kỳ này giới thiệu cùng độc giả.


Cơn hoảng loạn sau vụ phá sản của Người khổng lồ tài chính Lehman Brothers (Mỹ) hồi cuối năm 2008 đã đẩy thị trường tài chính toàn cầu tới mép vực sụp đổ. Các hoạt động kinh tế khắp thế giới, từ sản xuất công nghiệp tới ngoại thương, lao dốc với tốc độ nhanh hơn ở thời kỳ Đại khủng hoảng đầu thập niên 1930.

Nhưng nếu suy thoái 1930 phải mất gần 10 năm để tìm kiếm sự hồi phục, lần này, sự sụt giảm trên đã được ngăn chặn chỉ trong vòng vài tháng. Nhờ sự vững vàng của những nền kinh tế lớn và đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Brazil... nhóm các nền kinh tế đang nổi lên đã chống chọi không tồi với lần suy thoái này nếu so sánh với những gì đã diễn ra trong các lần suy thoái trước.

Với nhiều người, lần suy thoái này thậm chí đã không quá khủng khiếp. Chỉ sau một thời gian ngắn đình trệ, GDP của Trung Quốc đã tăng trưởng 7,9% so với cùng kỳ năm trước trong quý 2 và tăng 8,9% trong quý III vừa qua. Theo tính toán của ADB, các nền kinh tế đang phát triển châu Á sẽ đạt mức tăng trưởng trung bình 4,5% năm 2009 và mức tăng trưởng năm 2010 khoảng 6,6%. Trung Quốc sẽ tăng trưởng 8,9% và Ấn Độ là 7% năm 2010.

Các nền kinh tế hàng đầu thế giới cũng đã dần thoát khỏi suy thoái, tuy tốc độ tăng trưởng còn yếu ớt. Kinh tế Mỹ, khu vực đồng EUR, Đức, Nhật Bản... đều đã tăng trưởng trở lại vào cuối năm và tạo đà cho năm tiếp theo. Sự phục hồi của nền kinh tế Mỹ đang được tiếp sức bởi một thị trường lao động dần ổn định và sự gia tăng đôi chút trong lĩnh vực sản xuất, mang lại hy vọng về một năm sẽ kết thúc tốt đẹp hơn dự đoán. Kinh tế Mỹ đã tăng trưởng 2,8% trong quý III/2009 sau 4 quý liền liên tục suy giảm.

Kinh tế của hầu hết các nước EU đã bắt đầu tăng trưởng trở lại sau 15 tháng chịu ảnh hưởng của suy thoái tài chính toàn cầu. Mức tăng trưởng chung trong quý III của 16 thành viên Eurozone là 0,4%, trong khi cả EU có mức tăng trưởng 0,2%.

Đối đầu với suy thoái

Nhưng những con số trên không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của các động thái phản ứng lớn nhất, rộng nhất và nhanh nhất từng có trong lịch sử của các chính phủ. Những nhà băng mấp mé bờ vực phá sản đã được bao bọc bằng hàng trăm tỷ USD. Các ngân hàng trung ương đua nhau hạ lãi suất, các ngân hàng trung ương lớn tăng mạnh giá trị bảng cân đối kế toán. Các chính phủ trên toàn cầu tung ra những gói kích thích kinh tế lớn chưa từng có. Những biện pháp này đã giúp ngăn chặn sự hoảng loạn, vực dậy hệ thống tài chính và bù đắp lại sự sa sút nhu cầu của khu vực tư nhân. Nếu không, Đại suy thoái 1930 rất có thể đã lặp lại.

Ấn tượng nhất là Trung Quốc, với hoạt động tín dụng mở rộng ở tốc độ kỷ lục và gói kích cầu trị giá gần 600 tỷ USD vào cuối 2008, nước này đã thành công với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng trên 8%. Mô hình phát triển riêng biệt dường như đang giúp nước này vượt qua cuộc khủng hoảng một cách hiệu quả. Nếu xét về lượng dự trữ ngoại hối khoảng 2.300 tỷ USD thì không nước nào giàu hơn. Nhiều ý kiến cho rằng, Trung Quốc đã biến cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu này thành một cơ hội, và nhận định, không bao lâu nữa, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc và Ấn Độ còn được kỳ vọng sẽ đứng ra gánh vác vai trò lớn hơn trong việc bảo vệ nền kinh tế thế giới trước những xáo trộn trong tương lai.

Sự trỗi dậy của nhóm kinh tế mới nổi là sự thể hiện điển hình của sự biến đổi cục diện kinh tế thế giới. Trước khủng hoảng tài chính, những nhóm kinh tế này đã bắt đầu trỗi dậy, khủng hoảng càng trầm trọng thì càng nhanh chóng nổi lên, khẳng định vị thế của mình. Châu Á là "trung tâm của giới mới nổi", khi kinh tế thế giới ấm dần, sự hồi phục kinh tế của châu Á nhanh và mạnh hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

Đó là kết quả của các gói kích thích kinh tế được tung ra nhanh gọn và quyết liệt nhất. Các nước này còn xử lý khủng hoảng bằng nhiều nỗ lực đa phương và song phương, chẳng hạn, ASEAN tung ra 70 tỷ USD, ba nước đối thoại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản tung ra 1.200 tỷ USD để kích thích kinh tế chung. ASEAN+3 tăng Quỹ trao đổi tiền tệ khu vực châu Á từ 80 tỷ USD lên 120 tỷ USD, nhất trí đẩy mạnh thương mại nội khối...

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu nói, sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ đã chi phối kinh tế châu Á, cho dù kinh tế Mỹ giảm tốc thì châu Á cũng sẽ không rơi vào suy thoái. Còn tờ The Economist dự báo các nước châu Á sẽ xuất hiện hướng ngược lại hình chữ V, trong 5 năm tới, tỉ lệ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm là 7-8%, sự phục hồi kinh tế của họ gấp hơn 3 lần so với tốc độ bình quân của các nước trên thế giới. Trong hội nghị không chính thức lãnh đạo APEC tại Singapore cuối năm ngoái, Tổng thống Mỹ Obama cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của châu Á đối với Mỹ, cho rằng thời kỳ nước Mỹ tách khỏi khu vực phát triển nhanh nhất thế giới là châu Á đã kết thúc, Mỹ sẽ quay trở lại châu Á.

Dưới sự "dẫn dắt" của châu Á, dự tính năm 2020, tổng lượng kinh tế của nhóm kinh tế mới và các nước đang phát triển sẽ chiếm 50% GDP toàn cầu. Các nhóm kinh tế lớn mới nổi khác như Nga, Brazil, Mexico và Nam Phi cũng đã có những mức độ "chiến thắng" suy thoái khác nhau với nền kinh tế được đánh giá "lành mạnh" hơn các nước phát triển. Theo dự tính của WB, năm 2009, GDP của các nước này ước tăng 2,1%, thể hiện rõ sự tương phản với biểu hiện tăng trưởng kinh tế âm vượt quá -3% của các nước phát triển.

Trật tự mới?

Nhưng mọi sự tốt đẹp mới chỉ dừng ở đó. Có thể suy thoái kinh tế thế giới đã không nghiêm trọng như người ta tưởng, nhưng hậu quả của nó lại có thể đáng sợ hơn nhiều người nghĩ. Điều đáng ngại hiện nay là quá trình bình ổn trở lại của kinh tế thế giới vẫn còn rất mong manh, một mặt vì nhu cầu toàn cầu còn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các chính phủ, mặt khác vì chính sách tài khóa mở rộng dù đã ngăn chặn được những rắc rối cũ, nhưng lại tạo nguồn cho những bất ổn mới.

Khi kinh tế của các nước đang phát triển đã vượt qua được tình trạng khó khăn nhờ bài học sau khủng hoảng tài chính năm 1997, các nền kinh tế đó đã trải qua quá trình chuyển đổi sâu rộng và mang tính hệ thống về cơ cấu hoạt động, giúp họ có sức mạnh mới về mặt cơ cấu tổ chức. Đồng thời nhu cầu chi tiêu tiêu dùng và đầu tư mạnh mẽ trong nước đã giúp khu vực này giảm thiểu được những tác động tiêu cực của tình trạng xuất khẩu bị bóp nghẹt.

Nhưng mặt trái của nó vô tình đi ngược với công cuộc toàn cầu hóa. Tất nhiên, các nước phát triển cũng đã và đang làm như vậy. Các biện pháp cứu trợ kinh tế khẩn cấp, dù ở hình thức nào cũng mang sắc thái của chủ nghĩa quốc gia. Triết lý đã có từ lâu là mọi người đều thắng trong một thị trường thế giới duy nhất đã bắt đầu bị xói mòn. Thương mại toàn cầu, các dòng vốn và lao động nhập cư đang suy giảm. Thị trường tự do, toàn cầu hóa và phi điều tiết đã phát triển trong 30 năm nay đã chấm dứt và một thời đại mới đã đến. Hội nhập tài chính và kinh tế toàn cầu đang đảo chiều. Vai trò của nhà nước cùng với việc bảo hộ thương mại và tài chính đang gia tăng.

Theo phân tích tình hình thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế đã cơ bản vượt qua thời kỳ xấu nhất, kinh tế thế giới bắt đầu đi lên từ đáy. Theo báo cáo "Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới 2010" của Liên hợp quốc, dự tính năm 2010, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới chỉ là 2,4%. Nhưng theo định nghĩa truyền thống của IMF, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế thế giới ở mức dưới 2,5% được gọi là suy thoái, vì thế năm 2010, thế giới vẫn nằm trong suy thoái hoặc bên bờ của suy thoái.

Trong nghịch cảnh như vậy, theo dự tính, năm 2010, các nước đang phát triển được coi là một chỉnh thể sẽ tăng tốc là 5,1%, trong đó tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của nhóm kinh tế mới nổi là 6%, còn các nước phát triển chỉ khoảng 1,75%. Do đó có thể thấy, nhóm kinh tế mới vẫn có rất nhiều không gian để đuổi kịp nhóm kinh tế phát triển.

Tờ Financial Times bình luận rằng, một cuộc chuyển giao quyền lực trên trường quốc tế đang diễn ra thầm lặng. Tác động của cuộc chuyển giao ấy lại rất sâu sắc và được đánh giá là có thể đưa thế giới tới một cục diện ổn định hơn trong tương lai. Đặc điểm đầu tiên của quyền lực mới là vấn đề đạo đức và tính trách nhiệm. Phương Tây với cơ chế "thuần thị trường" đã không thành công thì tại sao các nước đang phát triển lại phải nhắm mắt đi theo một cách rập khuôn? Nhóm các nền kinh tế mới sẽ phát huy vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, xu thế này tất sẽ giúp biến chuyển cục diện và trật tự kinh tế thế giới.

Tuệ Minh

Thế giới chưa bình yên

2009 đã có thể qua đi không ồn ào nếu không có sự kiện “suýt" vỡ nợ của Dubai World. Không ai có thể tin nổi, biểu tượng của sự giàu có, bỗng chốc tuyên bố không thể thanh toán nổi nợ nần. Điều này khiến người ta bắt buộc phải nghi ngờ, liệu đây có phải điềm báo cho những cú sốc về nợ nần khác sắp sảy ra?

Một cuộc khủng hoảng tài chính mới có thể xảy ra? Có thể lắm chứ, khi những ngân hàng lớn của thế giới vốn mới chỉ bắt đầu quá trình phục hồi khỏi khủng hoảng, với những bảng cân đối kế toán còn chất đầy những khoản cho vay khổng lồ đang bắt đầu tới hạn hoặc đã quá hạn thanh toán với các doanh nghiệp và cả chính phủ. Trong khi vẫn phải tiếp tục duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp để thực hiện nghĩa vụ kích thích kinh tế.

Dự đoán, nợ ngân sách, đặc biệt là của các nước phát triển, sẽ lên đến đỉnh điểm vào năm 2010. Nợ trung bình của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), chiếm 73,1% GDP năm 2007, sẽ tăng lên 100% vào năm 2011. Tổng số nợ ngân sách trong khu vực đồng EUR ước tính cũng sẽ đạt đỉnh điểm 1.000 tỷ EUR vào năm 2010, so với 650 tỉ EUR năm 2008. Ngay cả Đức, một hình mẫu trong việc điều tiết ngân sách, cũng phải chấp nhận nợ ngân sách tăng từ 65% lên 85,5% GDP, vượt quá nhiều so với ngưỡng 60% được qui định trong Hiệp ước Maastricht về nợ ngân sách đối với các nước EU.

Giàu có như Mỹ và Nhật, do chính sách tài khóa nới lỏng để cứu tăng trưởng, thâm hụt ngân sách cũng không thoát khỏi sự leo thang mạnh nhất từ trước đến nay. Bằng mọi giá để giữ mức tăng trưởng 8,0%, nền kinh tế Trung Quốc bị đánh giá là mới chỉ tăng trưởng về lượng nhưng thiếu về chất.

Bên cạch đó, nợ doanh nghiệp cũng là một mối lo lớn, theo ước tính của Kleiman International, các doanh nghiệp trên thế giới sẽ đến hạn phải thanh toán số nợ 200 tỷ USD trong thời gian tới, trong đó một nửa là các khoản nợ của các công ty Nga và UAE.

Người ta vẫn tin rằng, các quốc gia thì khó có thể rơi vào tình trạng vỡ nợ, bởi sẽ có các nước giàu hoặc IMF can thiệp. Nhưng không ai dám chắc các doanh nghiệp sẽ được giải cứu trong trường hợp họ đứng trước bờ vực phá sản. Tuy nhiên, theo nhà kinh tế học Kenneth Rogoff (Havard) thì mọi quốc gia đều đang trong tình trạng dễ tổn thương vì nợ hiện nay đều có sự hậu thuẫn từ các quốc gia hoặc các tổ chức khác, nên có khả năng tránh được nguy cơ vỡ nợ. Tuy nhiên, một làn sóng vỡ nợ có thể xảy ra sau hai năm nữa, vì khi đó, những "nhà bảo lãnh ngầm" cũng phải tập trung vào những vấn đề của chính họ.

Điều tệ hại hơn, đó là sự vỡ nợ hàng loạt sẽ diễn ra rất nhanh. Bởi chi phí từ việc sửa chữa những thiệt hại từ bong bóng trước sẽ tạo ra bong bóng tiếp theo. Tất nhiên, các chính phủ đều đã, đang và tiếp tục sử dụng các chính sách cần thiết để tiếp tục kích thích nền kinh tế và "xì hơi" các quả bong bóng mới.

Nhưng sự phục hồi nhu cầu toàn cầu vẫn đang phụ thuộc nặng nề vào chi tiêu công. Nhu cầu tại các nước giàu còn yếu ớt, đặc biệt là ở các quốc gia có mức vay nợ cao. Hệ thống ngân hàng nhiều rạn nứt. Trong khi đó, những nền kinh tế mới nổi lại phải đương đầu với thách thức rủi ro bong bóng tài sản xuất hiện khi chính phủ lựa chọn, hoặc buộc phải lựa chọn, việc duy trì chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng trong một thời gian quá dài. Tại một số quốc gia, kết quả của tiến trình giảm nghèo kéo dài nhiều năm đã trở về con số 0 khi mà tầng lớp nghèo nhất chịu tác động tiêu cực cùng lúc của sự suy giảm tăng trưởng kết hợp với giá thực phẩm cao.

An Sinh


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]





    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Số 169 + 170 + 171: Thập kỷ đầu tiên Số 168: Thực phẩm nguy hại
    Số 167: Một năm của Obama Số 166: Dự báo năm 2010
    Số 165: Vượt lên khủng hoảng Số 163 + 164: 10 sự kiện quốc tế và 10 sự kiện đối ngoại nổi bật năm 2009
    Số 162: Tiêu dùng hàng nội Số 161: Thảm họa khí thải
    Số 160: Biển đảo Việt Nam Số 159: Kết nối Đông Á

    Số 167: Một năm của Obama Số 166: Dự báo năm 2010
    Số 165: Vượt lên khủng hoảng Số 163 + 164: 10 sự kiện quốc tế và 10 sự kiện đối ngoại nổi bật năm 2009
    Số 161: Thảm họa khí thải Số 160: Biển đảo Việt Nam
    Số 159: Kết nối Đông Á Số 158: Người Việt Hải ngoại
    Số 157: Châu Âu thiên hữu Số 156: Khoảng cách giàu nghèo
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ