BÀI CHỦ Thứ Tư, 03/11/2010-8:47 AM
Số 207: Xuất khẩu thủy sản
LTS. Nhiều năm trôi qua, hết cá lại tôm, hết tôm lại cá bị kiện, hết kiện về tên gọi lại đến bán phá giá, rồi chất lượng sản phẩm. Các vụ kiện đều chưa thể đi đến hồi kết, nếu không muốn nói là gia tăng. Vì sao vậy? Có phải ngành thủy sản Việt Nam buông lỏng quản lý hay mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 4 (sau dầu khí, dệt may, giày da) trở thành mối đe dọa đến mức các nước nhập khẩu phải xây dựng các rào cản thương mại. Đâu là thành công và đâu là yếu kém của ngành thủy sản Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.

Từ tăng trưởng “thần kỳ”

Năm 1998, khi xuất khẩu gạo đạt 1 tỷ USD, thì tổng xuất khẩu tất cả các loại tôm, cá... mới chỉ ở mức chưa được phân nửa. Nhưng sự thay đổi đã diễn ra rất nhanh trong những năm tiếp theo. Đến 2008, riêng xuất khẩu cá đã lên đến gần 2 tỷ USD, vượt xa các loại hàng hóa khác và đua với gạo.

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 9 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu trên 969.200 tấn thủy sản, đạt trên 3,5 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2009. Với đà này, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 2010 có thể đạt 4,5 tỷ USD như dự kiến, tăng so với mức 4,2 tỷ USD năm ngoái. Các vụ kiện cáo, áp thuế chống bán phá giá... kéo dài nhiều năm tại các thị trường Âu, Mỹ, Nhật... tuy gây bất lợi, nhưng nhờ kiên trì theo đuổi, đấu tranh nên xuất khẩu thủy sản vẫn tăng trưởng.

Năm nay, ngành thuỷ sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn từ nguồn nguyên liệu, đến thị trường tiêu thụ nhưng xuất khẩu các mặt hàng chính sang các thị trường đều tăng trưởng khá. Ngoài các thị trường truyền thống, các thị trường không truyền thống cũng đột ngột tăng mạnh, đáng kể là Nga, Trung Đông và Nam Mỹ... Việt Nam có được cơ hội vàng này là do một số nước xuất khẩu thủy sản lớn như Ấn Độ, Thái Lan... mất mùa và sự cố tràn dầu tại vịnh Mexico đã khiến nhiều ngư trường tại khu vực này phải đóng cửa.

...đến tăng trưởng “nóng”

Như vậy, chỉ trong vòng 9 năm (2000-2009), riêng xuất khẩu cá tra và ba sa đã tăng 930 lần về sản lượng và 560 lần về kim ngạch. Diện tích nuôi năm 2008 là 6.160ha, cung cấp sản lượng cá hơn 1,1 triệu tấn, xuất khẩu hơn 1,4 tỷ USD. Tính bình quân 1ha nuôi đạt sản lượng 183 tấn, cung cấp cho chế biến 103 tấn thành phẩm và xuất khẩu đạt giá trị 234.000 USD. Chưa có một ngành nào trong nông nghiệp tạo ra được năng suất cao đến mức này và cũng không có ngành hàng xuất khẩu nào của Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao như vậy liên tục trong nhiều năm.

Chính lợi nhuận cao đã tạo nên cơn sốt đầu tư. Sản lượng cá nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2008 tăng gấp 12 lần so với năm 1995. Chỉ 5 năm từ 2003 đến 2008, số nhà máy chế biến thủy sản tăng 2,3 lần, công suất thiết kế tăng 2,7 lần, hàng loạt dịch vụ phục vụ cho ngành cá khai trương, số nhà máy chế biến thức ăn tăng 3,5 lần về số lượng và công suất.

Năm 2006 là thời điểm bùng nổ của con cá tra, basa. Giá cá tăng vọt bất thường, nhưng sau đó sụt giảm cũng đầy kịch tính như lúc tăng. Giá thức ăn (chiếm 60% giá thành) đến thời điểm tháng 4/2010 đã tăng 65% so với tháng 3/2006, nhưng giá cá xuất khẩu thì lại giảm liên tục trong nhiều năm. Giá cá xuất khẩu trung bình năm 2009 chỉ còn bằng 60% so năm 2000. Nông dân, những người góp phần đáng kể trong câu chuyện thần kỳ của ngành cá là nạn nhân đầu tiên và đau đớn nhất. Kim ngạch xuất khẩu chỉ còn 1,34 tỷ USD, giảm gần 8% so với năm 2008, và cũng là năm đầu tiên trong chuỗi dài liên tiếp sản lượng cá nuôi chững lại.

Hiện tại, ở khu vực nuôi trồng nhìn chung tình hình xấu. Hàng loạt ao nuôi bỏ không vì người nuôi không còn chịu đựng được áp lực giá cả và đầu tư. Một số đang nghĩ tới việc chuyển nghề. Ở khu vực chế biến, cũng không khá hơn, trung bình toàn ngành chỉ đạt công suất ở dưới 50% so với thiết kế.

Ta lại hại ta

Con Tôm – mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng không phải hiếm chuyện để nói, chẳng hạn, tình trạng vừa thiếu vừa thừa nguyên liệu. Việc tăng quá nhanh các nhà máy chế biến phục vụ xuất khẩu, cùng với việc mở rộng dây chuyền sản xuất nên sản lượng tôm nguyên liệu không đủ cho chế biến. Theo Sở NN và PTNT Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, vào thời điểm chính vụ, nguồn tôm nguyên liệu cũng chỉ đáp ứng được 70 % công suất.

Tăng trưởng không có kế hoạch kiểu như trên dẫn đến những kết quả hoàn toàn “không nằm trong kế hoạch” là tất yếu. Đây không phải là chu kỳ suy thoái sau giai đoạn tăng trưởng nhanh... Có một số nguyên nhân lớn, nhưng đáng tiếc phần nhiều không phải do bên ngoài.

Không như gạo, ngành thủy sản ít chịu sự quản lý hơn. Bất cứ người nông dân nào cũng có thể nuôi cá, thậm chí trở thành chủ một nhà máy chế biến cá với hàng nghìn công nhân trong khoảng thời gian ngắn nhất, miễn là họ huy động được vốn và vay được tiền để đầu tư. Có thể chính sự cởi mở này đã góp phần vào sự gia tăng mạnh mẽ của ngành thủy sản, nhưng cũng là con dao hai lưỡi. Phát triển quá nhanh là một phần nguyên nhân của tình trạng lộn xộn. Nói cách khác, các thể chế hỗ trợ cho phát triển nghề cá đã không theo kịp với sự tăng trưởng của ngành.

Sự thích nghi kỳ lạ của cá tra, basa từ vùng nước ngọt sang vùng gần nước lợ làm gia tăng nhanh sản lượng. Cụm ngành hình thành giúp tiết giảm chi phí, làm giá thành sản phẩm chế biến giảm liên tục. Nhưng thay vì tận dụng những ưu thế này để làm lợi cho mình và quốc gia, các nhà xuất khẩu đã làm điều ngược lại là liên tục cạnh tranh bằng “chiến lược đại hạ giá”. Lợi thế so sánh do tài nguyên là của quốc gia, nhưng vì nhiều lý do, Chính phủ đã không thu thuế tài nguyên, thuế chất thải mà các nhà máy thải ra. Vì thế “chiến lược hạ giá” này đã cung cấp lợi thế tài nguyên cho quốc gia nhập khẩu thụ hưởng. Trong khi đó, hầu hết họ lại không cần sự giảm giá nhanh chóng và mạnh bạo như vậy.

Hậu quả là một số quốc gia đã kháng cự. Điển hình là vụ kiện tên gọi “basa hay catfish” kéo dài gần 10 năm, nó chỉ là cái cớ, vì cá da trơn của Việt Nam ngon như cá Mỹ nhưng giá “bèo” hơn tới 5 lần. Không có quốc gia nào cạnh tranh với Việt Nam về con cá này, nhưng các nhà xuất khẩu thay vì điều chỉnh chiến lược của mình thì quay sang đổ lỗi cho bên nước ngoài và tiếp tục hạ giá. Ông Nguyễn Hữu Dũng - Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phải thốt lên rằng, một thị trường mới như Ai Cập cũng “nát bét” vì sự cạnh tranh này.

Ngành thủy sản đã khá thành công trong việc phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm thủy sản nhưng có một việc quan trọng chưa làm được, đó chính là sự phối hợp trong những chiến lược chung nhằm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ chú ý bán được sản phẩm mà không quan tâm đến việc sau đó sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng theo diện mạo nào. Nên chuyện 1kg cá Tra từ Việt Nam xuất đi Hà Lan với giá 2,14 USD được bán tại siêu thị nước này từ 11-22 euro, bao bì của nhà phân phối không dính dáng tí nào đến nhà xuất khẩu Việt Nam, trở nên rất bình thường.

“Vô danh” khiến thương hiệu của từng nhà sản xuất không có, mà thương hiệu chung cho cả ngành cá thì càng không. Ông Nguyễn Trường Thịnh – một Việt kiều đang kinh doanh cá tại Mỹ nhận xét: “Các doanh nghiệp chưa thấy hết tầm quan trọng của marketing và thương hiệu trong kinh doanh, chưa có kế hoạch đầu tư đường dài mới chỉ chú trọng vào những lợi nhuận trước mắt. Với một xã hội dư thừa như Mỹ, EU... bao bì bắt mắt, nhãn hiệu sản phẩm, tên gọi sản phẩm vô cùng quan trọng. Thực tế này xuất phát từ thói quen của người tiêu dùng, nhưng về lâu dài có thể gây nhầm lẫn nếu sản phẩm của Việt Nam cứ mãi núp dưới tên người khác.”

Một vấn đề không kém phần quan trọng, đã được cảnh báo từ nhiều năm nhưng vẫn chưa thể chấm dứt - tình trạng dư lượng hóa chất trong sản phẩm. Người ta đã sử dụng các loại hóa chất từ bí mật đến công khai, từ khâu nuôi trồng đến sau đánh bắt. Trong khi đó, khâu kiểm soát nguồn nguyên liệu còn lỏng lẻo vì tốn kém và thiếu công nghệ... Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã chịu không ít thiệt hại, do mất khách hàng, bị ép giá... khi bị phát hiện hàng hóa không đảm bảo. Nhưng đáng buồn, giải pháp của các doanh nghiệp là đổ hết thiệt hại lên đầu người nuôi trồng, bằng cách hạ giá thu mua hay kéo giãn khoảng cách thu mua, chứ không phải một biện pháp mang tính xây dựng.

Vì thế, khi các nhà xuất khẩu kêu ca về những rào cản mới được dựng lên ở Mỹ hay EU..., thì thực tế cũng không nên hiểu hoàn toàn như vậy. Người mua bỏ tiền, họ cũng muốn nhận sản phẩm đáng đồng tiền. Tham tán Công sứ về an toàn thực phẩm và sức khỏe EC tại Thái lan - Patrick Deboyser thẳng thắn nói rằng, Luật IUU mới áp dụng vào 1/1/2010 không nhằm gây khó khăn hay giúp đỡ bất kỳ nước xuất khẩu nào, cũng không phải để hạn chế mặt hàng thủy sản vào liên minh mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng hiệu quả hơn.

Thị trường quốc tế vốn đa dạng, đôi khi có những sự việc quá kỳ cục với ta, gây không ít phiền nhiễu, nhưng lại bình thường đối với họ, như chuyện cái tên con cá. Nhập gia phải tùy tục mà thôi, vì ở Mỹ cũng đã từng có chuyện tôm buộc phải gọi là cua, chỉ đơn giản là vì những người nuôi tôm hùm ở bang Maine kiên quyết không cho các nhà hàng dùng chữ “tôm hùm langostino”- một sản phẩm của Chile. Vì thế, muốn đứng vững ở thị trường xuất khẩu, không còn cách nào khác ngành thủy sản phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, tăng cường hợp tác, phá vỡ thế qui mô sản xuất nhỏ, mặt hàng có giá trị gia tăng cao, xây dựng thương hiệu có uy tín… trên cơ sở đảm bảo các tiêu chuẩn quy định của thị trường quốc tế.

Nước đến chân... chạy!

Khâu quản lý của Việt Nam bị các chuyên gia đánh giá là chưa chuyên nghiệp. “Nhiều năm làm việc nhưng gần đây lòng tin của tôi đối với Bộ NN&PTNT ngày càng sút giảm”. Đó là câu nói khá “sốc” của ông Dũng ở hội nghị xuất khẩu cá tra mới đây tại TP.HCM. Ông Dũng được coi là người góp công lớn đưa thủy sản Việt Nam có tiếng nói trên thế giới như hiện nay. Ông cũng là người sẵn sàng “nắn gân” cơ quan quản lý để bảo vệ doanh nghiệp trước những khó khăn, vướng mắc. Vì thế câu nói của ông được liên tưởng ngay tới một quy định “bỗng dưng... khó tính” mới đây của Bộ NN&PTNN. Quy định về đăng ký chứng nhận VSATTP cho nguyên liệu nhập khẩu bị cho là đã quá đà, đẩy hàng chục doanh nghiệp thủy sản đứng trước bờ vực phá sản, vì nó không thực tế.

Tuy nhiên, thiết nghĩ, Luật này không quá mạnh, mà chỉ là thời gian áp dụng hơi gấp mà thôi. Bởi vì, ngành thủy sản cần một quá trình sàng lọc loại bỏ những yếu kém, để phát triển. Cần có những hành động cương quyết đối với các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng. Đây là việc đáng ra phải làm từ lâu. Như lời Thứ trưởng NN&PTNT Lương Lê Phương: “Dù quy định mới của những nhà nhập khẩu hết sức nghiêm ngặt, song không quá khó để thực hiện. Bởi vậy, không thể đổ tại do có quá nhiều rào cản mà đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản đi xuống”.

An Sinh

Bí quyết của Trung Quốc

20 năm liên tiếp, Trung Quốc là nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 70% tổng sản lượng toàn cầu. Có được thành quả đó, không thể không kể đến một kế hoạch dài hơi của Chính phủ Trung Quốc.

Ngay từ năm 1990, nhờ sự hỗ trợ từ Chính phủ, Trung Quốc trở thành quốc gia đầu tiên có sản lượng thủy sản nuôi cao hơn sản lượng thủy sản khai thác tự nhiên. Năm 1986, Luật Thủy sản cùng chuỗi hệ thống quản lý gồm các Điều khoản về Quản lý cấp phép cho thủy sản nhằm khuyến khích phát triển ngành thủy sản nhanh chóng và bền vững được ban hành và thực thi. Bên cạnh đó, nước này còn áp dụng những mô hình nuôi sinh thái, an toàn, tiết kiệm nước và hiệu quả mà công suất và quy mô chế biến thủy sản tăng lên nhanh chóng. Năm 2008, Trung Quốc có 9.971 doanh nghiệp chế biến thủy sản với tổng công suất chế biến đạt 21,97 triệu tấn.

Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, năm 2008, tiêu thụ thủy sản tính bình quân theo đầu người của nước này đạt 36kg, tăng 1,6 lần so với mức trung bình thế giới. Cùng với diện tích nuôi trồng chiềm tới 70% tổng sản lượng thủy sản của cả Trung Quốc, ngành khai thác thủy sản ngoài khơi của Trung Quốc cũng xếp vào hàng lớn trên thế giới với gần 1.500 tàu đánh bắt hoạt động tại các vùng biển quốc tế của 3 đại dương cũng như các vùng nước có sự quản lý của 32 quốc gia.

Cúc Nhi


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]





    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0

    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ