BÀI CHỦ Thứ Ba, 01/02/2011-3:49 PM
Số 215+216: Tết Tây Tết Ta
Ảnh minh họa
LTS. Tết Dương lịch (Tết Tây) hay Tết Nguyên đán (Tết Ta), tết nào cũng quan trọng và nên được đón chào bởi vì nó đều đánh dấu điểm kết thúc một năm cũ và bắt đầu một năm mới. Ở Việt Nam, Tết Ta linh thiêng và phổ biến hơn, nhưng không phủ nhận được một xu hướng đang diễn ra sôi nổi là sự cạnh tranh và xâm lấn của Tết Tây. Mỗi khi xé một tờ lịch, theo thói quen truyền thống, nói chung người Việt thường xem cả hai lịch và tuỳ theo tính chất của sinh hoạt mà sẽ lấy làm trọng loại lịch nào: lịch Ta (âm dương), hay lịch Tây (dương lịch).

Cội nguồn của Tiết

Tết Tây - Tết Ta trước hết là sự phân biệt bắt đầu từ sinh hoạt đặc thù theo thời gian và cách tính lịch của cư dân hai vùng văn hoá Phương Đông và Phương Tây. Theo nghiên cứu về lịch pháp của các nhà văn hoá, có ba loại lịch cơ bản: lịch thuần âm, lịch thuần dương và lịch âm dương.

Lịch thuần dương phát sinh từ văn hoá sông Nil Ai Cập khoảng 3.000 năm TCN, dựa trên chu kỳ biểu kiến của mặt trời, mỗi chu kỳ một năm, có 365, 25 ngày. Lịch thuần âm phát sinh từ văn hoá Lưỡng Hà, dựa trên tuần hoàn của mặt trăng, mỗi chu kì một tháng, dài 29,53 ngày, nên một năm âm lịch có 354 ngày, ít hơn năm dương lịch 11 ngày. Khoảng 3 năm thì lịch âm sẽ chậm hơn lịch dương một tháng và khoảng 36 năm, sẽ chậm hơn lịch dương 1 năm, nên đầu năm lịch âm chạy khắp các mùa trong năm của lịch dương.

Cho đến nay, cả thế giới vẫn dùng lịch dương để tính thời gian.

Lịch âm của cư dân Nam Á, theo cách gọi nôm của Việt Nam là "âm lịch", thực chất là lịch âm dương, kết quả cách tính toán của tư duy tổng hợp, kết hợp cả hai chu kì mặt trăng mặt trời, theo ba giai đoạn: Một là tính từng ngày trong tháng theo lịch âm. Cứ theo hình dáng trăng mà tính, thì được chính xác từng ngày, xác định được ngày khởi đầu trăng là ngày sóc và ngày tròn trăng là ngày vọng. Hai là định các tháng trong năm theo lịch dương bằng cách định các ngày tiết, là ngày thời tiết đặc biệt. Đầu tiên là hai ngày nóng-lạnh nhất: hạ chí và đông chí, hai ngày "vừa phải": xuân phân và thu phân (giữa xuân, giữa thu), 4 ngày khởi đầu bốn mùa: lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông, được 8 mốc gọi là Bát tiết. Cứ thế phân nhỏ nữa thành 24 ngày tiết. Dân gian Việt có truyền thống cúng những ngày này, kết hợp với lịch sản xuất nông nghiệp mà tạo thành những ngày Tết (do biến âm từ Tiết mà ra). Ba là điều chỉnh cho lịch âm lịch dương phù hợp với nhau bằng cách đặt thêm một tháng nhuận sau mỗi khoảng gần 3 năm. Vì mỗi năm dương lịch chênh âm lịch 11 ngày, nên cứ 19 năm thì có 7 năm nhuận.

Cách tính lịch âm dương này được thế giới đánh giá là khoa học. Theo GS. Hoàng Xuân Hãn thì "nên bảo tồn một hệ lịch rất khoa học, rất hợp thời, hợp người, bắt nguồn từ nền văn minh Á Đông, và đang làm tiêu biểu cho nền văn hoá ấy". Chính là lịch âm dương đã sinh ra hệ đếm độc đáo: Hệ Can Chi, dùng gọi tên đơn vị thời gian: giờ, ngày, tháng, năm, theo tên can chi. Chính vì vậy, theo thời tiết 4 mùa mà các ngày lễ tết trong văn hoá nông nghiệp Việt được phân bố đều trong năm, và đan xen vào khoảng trống trong lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp, mà thành hệ thống các ngày Tết.

Nghiêng lệch về Tết Ta

Đương nhiên, ngày quan trọng nhất phải là ngày Tết mở đầu năm mới. Ngày xưa, người Việt gọi ngày ấy là Tết Cả để phân biệt với những tết khác trong năm, tuần tự sau đó và nhỏ hơn. Sau này, do ảnh hưởng Trung Hoa, Tết Cả gọi theo âm Hán Việt là Tết Nguyên đán (buổi sáng đầu năm). Đến cuộc giao lưu với văn hoá phương Tây, thì nó được gọi là Tết Ta, để phân biệt với Tết Tây (đầu năm theo lịch dương). Đúng ra, theo cách tính của thời cổ Phương Nam thì năm mới phải bắt đầu từ tháng Tý, tức tháng Một (11 bây giờ). Song, do ảnh hưởng Trung Hoa, Việt Nam cũng lấy tháng Dần làm tháng đầu năm mới. Tuy nhiên, theo nhận xét của GS. Trần Ngọc Thêm, "Tết Ta vẫn mang trọn vẹn đặc trưng văn hoá truyền thống của người Việt Nam".

Điều lý thú và cũng khá oái oăm, không chỉ xảy ra ở Việt Nam, đó là người Việt đã tự nhiên nhi nhiên mà chấp nhận sống trong/với cả hai thứ: lịch dương và lịch âm dương. Mỗi khi xé một tờ lịch, theo thói quen truyền thống, nói chung người Việt thường xem cả hai lịch và tuỳ theo tính chất của sinh hoạt mà sẽ lấy làm trọng loại lịch nào: lịch Ta (âm dương), hay lịch Tây (dương lịch).

Cho nên, điều thú vị là người Việt hiện đại đã ăn cả Tết Ta lẫn Tết Tây, và dĩ nhiên, nghiêng lệch về Tết Ta, theo cách sinh hoạt ngàn đời của cư dân trồng lúa, đã quá quen và gắn bó sống chết theo lịch âm dương. Những ngày quan trọng nhất của cuộc đời người Việt và nói chung, của cư dân trống lúa thuộc vùng văn hoá nông nghiệp phương Đông, đều được tính bằng lịch âm dương (với thói quen gọi tắt là âm lịch, khiến một số người lầm tưởng rằng lịch này chỉ tính theo mặt trăng). Đó là ngày sinh, ngày cưới hỏi, ngày giỗ, ngày tết, ngày làm nhà… và họ không chỉ coi trọng ngày Tết Nguyên đán đầu năm, mà còn cả tháng đầu năm: Tháng giêng là tháng ăn chơi. Và hệ thống Tết Rằm: Rằm tháng Giêng là Tết Thượng Nguyên, Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy), Hạ Nguyên (Rằm tháng Mười), Trung Thu (Rằm tháng Tám). Rồi hệ thống tết trùng ngày tháng (3/3,5/5,7/7)…

Ở đây, chỉ nói riêng về phong tục Tết Cả, hay là Tết Ta, Tết Nguyên đán theo nếp sinh hoạt truyền thống, đã được bắt đầu từ 23 tháng Chạp, nghĩa là trước năm mới của lịch âm dương hàng tuần lễ, với nghi lễ tiễn đưa ông Táo lên chầu Trời. Vì thế, đặc trưng văn hoá đậm đặc nhất của Tết Cả Việt Nam là nếp sống cộng đồng trong muôn mặt sinh hoạt trước Tết, trong Tết và sau Tết của người Việt xưa nay.

Nhớ thương hoa đào

Với Hà Nội, nơi lưu giữ điển hình nhất của nếp sống còn rất "làng xã" này, có thể chính là chợ hoa Hàng Lược (đã 500 tuổi), với thứ hoa điển hình cho thú chơi hoa ngày Tết của người Thăng Long kinh kì là hoa đào. Rủ nhau tấp nập, người Hà Nội sắm hoa đào như đi trảy hội. Nét thanh lịch ấy đến giờ vẫn chẳng chịu mờ phai, và đã đi theo lối sống người Hà Nội đến thập niên đầu thế kỉ XXI. Chỉ tiếc ruộng hoa đào thắm bát ngát vùng ven nội ven ngoại Hà Nội xưa đã bị sóng đô thị cuốn trôi và chẳng bao lâu nữa, có lẽ ruộng hoa, chợ hoa truyền thống Hà Nội sẽ chỉ còn trong hoài cảm của người Hà Nội tuổi già và trung niên. Do đó, dường như những kẻ trung niên luôn nhớ thương hoa đào Hà Nội mỗi khi gió xuân về, mùa Tết đến…

Và do sự đưa đẩy tình cờ nào đó, gần như cả thập niên đầu thế kỉ XXI, những kẻ trung niên Hà Nội, đâm phải lòng những cuộc đi xa Hà Nội trong mùa Tết, sau ngày ông Táo, khi vãn việc, thường cùng nhau chung một xe taxi, nhằm hướng Mộc Châu, kiếm đào rừng phai chơi Tết, ở các bản làng của người Mông xa ngái.

Cuộc dã ngoại đầy sắc đào phai núi rừng ấy thường ngắn ngủi trong ngày, với chiếc xe con 4 chỗ đã lắp trên nóc khung sắt, sẵn cho việc buộc những cành đào rừng hái sớm, chi chít nụ ngủ vùi trong những cành đào già màu nâu thẫm, thân lên mốc trắng. Từ đó, đào rừng phai tràn về Hà Nội, xâm nhập "phố nhỏ, ngõ nhỏ, nhà tôi ở đó". Đêm cuối năm, ngồi phòng khách, dưới bóng cành đào rừng phai thật lớn, chặt bằng dao rừng của người Mộc Châu, đâu đây "nghe sóng sông Hồng thở than", đỡ nhớ tiếc vườn đào ruộng đào đã biến mất ở Nhật Tân Quảng Bá…

Còn những người trẻ tuổi thì sao? Tuổi xanh đô thị Hà Nội bây giờ cũng nhạt thắm phai đào, đi chợ hoa Tết có khi chỉ cốt đi với nhau, ngắm nhau và ngắm người. Các nam thanh nữ tú thích tự do xe máy, cặp đôi cùng nhau rong ruổi đường trường, say sưa mãn nhãn cảnh đẹp dọc đường là chính, chứ không vụ mua sắm. Cắm được, hái được một cành nhỏ hoa đào rừng sau xe máy là được, không cầu kỳ kĩ tính cành đào có thế đẹp hay không, cứ để dáng mộc tự nhiên cho thích mắt.

Và họ bắt đầu hoà nhập với tất cả những ngày lễ tết của phương Tây: rủ nhau vào nhà thờ Lớn và các nhà thờ Công giáo ở Hà Nội vui lễ Noel, hoặc chẳng đi nhà thờ thì vẫn đi chơi đêm Noel giá rét và náo nức tay trong tay dạo phố, mua quà tặng nhau ngày Lễ Tình nhân 14/2. Giới trẻ đô thị Việt đã từ lâu không ngần ngại đùa cợt nói dóc, nói dối ngày Cá Tháng Tư, như những cư dân Phương Tây chính hiệu. Rồi ngày 8/3, 1/5, họ cũng đã quá quen ứng xử với những ngày lễ quốc tế này…

Chung sống hòa bình?

Có thể nói, giao lưu văn hoá Đông Tây suốt thế kỉ XX, nhất là ở đầu thế kỷ XXI, khi Việt Nam gia nhập WTO đã khiến người Việt và người từ các nước ngoài đến sống hoặc du lịch Việt Nam trở nên gần gũi, không còn xa lạ, cách bức nữa. Đặc biệt là sự toả lan mạnh mẽ của Internet, khiến thế giới trở nên phẳng, thì Tết Tây - Tết Ta ở Việt Nam đã gần nhau, hoà vào nhau đến mức GS.Võ Tòng Xuân ở ĐH Cần Thơ từng đặt vấn đề Việt Nam có nên ăn cả hai cái Tết Tây - Ta, nhất là ăn Tết Ta quá kỹ, khi Việt Nam còn nghèo như thế không? Câu trả lời bây giờ có thể vẫn là Không, nhưng biết đâu vật đổi sao dời, lớp trẻ 9X sắp tới sẽ nghĩ khác, như một vài nước Đông Nam Á đã nghĩ và đã bỏ tết truyền thống, chỉ ăn Tết Tây, để tiết kiệm thời gian, tiền bạc?

Và cũng phải nhận rằng, nhiều cô dâu, chú rể Tây của Việt Nam, ngược lại, chỉ thấy yêu Việt Nam, vì người Việt đã giữ được phong tục Tết Ta truyền thống với rất nhiều hương xưa mà Tết Tây không thể có.

Có lẽ vấn đề nằm ở thái độ văn hoá của người Việt hiện đại trong ứng xử với Tết cổ truyền và Tết Tây ngay trên đất nước mình. Nếu năm Tân Mão 2011, có nhiều người, thay vì sum họp, quây quần bên nồi bánh chưng sôi sục hương vị Tết… lại đưa toàn gia lên đường đi chơi xa trong nước, hay ra nước ngoài chẳng hạn, cũng không thể đánh giá họ là những người mất gốc (?) hoặc bạc phai văn hoá dân tộc. Và có lẽ chẳng bạn bè phương Tây nào nỡ trách nếu sáng Mồng Một Tết dạo quanh Hồ Hoàn Kiếm sẽ chẳng có quán café hay quán phở nào mở cửa, vì… kiêng cữ ngày Tết ?

Suy cho cùng, với Tết Ta, cách tốt nhất mà người Việt hiện đại lựa chọn có lẽ vẫn là tâm thế tự do, cởi mở, đón đợi Tết trên cái gốc vững vàng về văn hoá ứng xử. Và Tết Ta hay Tết Tây cũng chỉ là khác biệt tương đối. Làm sao kéo gần lại hai cái Tết vốn khác biệt về văn hoá này có thể “chung sống hoà bình”; và người Việt có khi phải tự điều chỉnh về ứng xử với Tết, sao cho thích hợp với một đất nước đang chuyển đổi mạnh mẽ, để biến thành hiện thực các mục tiêu phát triển của Việt Nam ở thế kỷ XXI: dân phải giàu, nước phải mạnh và xã hội phải công bằng, dân chủ, văn minh…

Nguyễn Thị Minh Thái

Ý kiến

Nguyễn Quốc Hải, nhà văn: Tết Tây được đặt ở vị trí ngày một sôi động, thể hiện tính hội nhập và giao lưu văn hóa của chúng ta. Điều đó không có gì đáng lo ngại. Nếu dân tộc ta có nội lực mạnh thì sẽ giữ được văn hóa của mình. Một dân tộc muốn giữ văn hóa phải bảo lưu, phát triển truyền thống tốt đẹp không để văn hóa khác lấn sân. Làm phong phú văn hóa dân tộc là một nhiệm vụ cấp bách nhưng tiếp thu cái gì cũng phải có chọn lọc, nếu không sẽ bị “thôn tính”. Cho nên, Tết Nguyên đán mất hay không, phụ thuộc vào khả năng gìn giữ phong tục bằng sức mạnh của văn hóa.

Thúy Hằng, công chức: Đón Năm mới theo âm lịch chỉ có ý nghĩa truyền thống chứ không thực tế, vì trong đời sống người ta thường dùng dương lịch hơn. Cho nên, nếu nói ăn Tết Tây là mất gốc, ăn uống bằng dao, nĩa là mất gốc thì chúng ta đã mất gốc từ lâu. Chúng ta cắt tóc dài thành ngắn, bỏ khăn đống, mặt quần Jeans, áo com-lê, hát nhạc pop, nhảy hip-hop... thì cũng đã là những thay đổi rất lớn, còn hơn cả việc thay đổi thời gian ăn Tết.

Nguyễn Văn Hùng, kỹ sư nông nghiệp: Tại sao lại bỏ Tết Ta nhỉ? Hội nhập là một chuyện, còn chuyện gìn giữ văn hoá là một chuyện. Bây giờ cái gì cũng làm theo Tây hết thì còn gì là Việt Nam nữa? Mà cũng lạ, bà con mình ở nước ngoài thì cứ mong về quê hương ăn cái Tết Ta, trong khi một số người ở nhà lại khoái ăn Tết Tây hơn? Đó chỉ là số ít thôi, còn lại đa số mọi người vẫn mong muốn được ăn Tết Ta hơn.

Nguyễn Đức Anh, nhà báo: Tết truyền thống của Thái Lan là hội té nước. Đây cũng là dịp người Thái tranh thủ quảng bá hình ảnh nước họ ra thế giới bên ngoài và hốt tiền của khách du lịch. Tết truyền thống của Việt Nam có nhiều phong tục đẹp, nhưng chúng ta có làm được như Thái Lan không?

Ngô Ngọc Trang, doanh nghiệp: Tết Tây quan trọng không kém Tết Ta bởi ta dùng lịch Tây là chính, đơn cử là những ngày lễ như 30/4, 2/9, 20/11. Tôi thích tết Tây không phải tôi là người sính ngoại mà chỉ thấy là nên làm những gì có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống hơn. Sau một năm sống, làm việc, nhìn lại mình đã làm được gì và chưa làm được gì, đúc kết và suy ngẫm để hướng đến một năm mới với nhiều dự định và hy vọng.

Hà Văn Thùy, nhà văn: Chỉ một lý do khiến người Việt không bao giờ bỏ Tết Nguyên đán, đó là tình người, là tâm linh. Tết là dịp người ta trở về dưới mái ấm gia đình, gặp lại ông bà, bố mẹ, anh em, họ hàng, bè bạn, nối lại sợi dây của mối tình máu mủ, quê hương... Với phần lớn người Việt, cái tết Tây chỉ là tờ lịch đầu tiên của cuốn lịch. Ngày 1 tháng Giêng Dương lịch chỉ đơn thuần là cái mốc thời gian, cũng trôi qua vô hồn...

Nguyễn Giáp, giáo viên: Không thể thay thế Tết Ta thành tết Tây được. Đó là truyền thống dân tộc. Nó như một cái gì đó đã thấm vào máu của mỗi chúng ta, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tết Ta có một ý nghĩa thiêng liêng lắm, nhất là phút giao thừa. Vì Việt Nam dùng Âm Lịch, tính theo chu kỳ của trăng, nên phút giao hòa của vũ trụ lúc ấy mới thực sự đúng nghĩa chữ “Tiết” của Tết...

Ngọc Hà, lao công: Tết nào cũng... bình thường. Điểm khác biệt rõ nhất là tôi vẫn làm việc trong ngày Tết dương lịch và trong Tết âm lịch thì được về quê với chồng con. Cho nên, tôi thích Tết âm lịch hơn chứ.

GS.TS Trần Quang Hải (Việt kiều Pháp): Tết Tây có cái hay của nó. Tết Tây chỉ có một ngày thôi - ngày 1 tháng giêng. Chiều 31 tháng chạp, đa số người Pháp đi ăn mừng lễ cuối năm ở nhà hàng hay thù tạc với một số bạn bè. Giờ phút quan trọng nhất là lúc đúng 12 giờ khuya. Nhạc trỗi lên bài Auld Land Syne do nhà thơ Robert Burns sáng tác vào cuối thế kỷ 18…

Truyền thống này không làm cho tôi cảm xúc mạnh. Tuy sống xa quê hương đã 50 năm, tôi vẫn còn duy trì một số phong tục của Việt Nam trong dịp Tết ta. Lúc con tôi còn nhỏ, tôi dạy cho con biết thế nào là đưa ông táo về trời, đêm giao thừa thì phải làm cơm rước ông Táo trở vào nhà. Con tôi mặc quần áo mới, khoanh tay chúc chúng tôi và tôi phát tiền lì xì trong một bao thơ đỏ... Trong ba ngày Tết, ở nhà ăn bánh tét, bánh chưng, thịt kho dưa giá. Mâm trái cây phải có những trái mang lại sự sung túc như mãng cầu, trái dừa, đu đủ và xoài để đọc trại ra thành câu "cầu vừa đủ xài". Trong nhà phải có hoa đào, hoa mai.

Giờ đây con tôi đã thành nhân, có gia đình và tiếp tục đưa đón ông táo, lì xì con cái và mua bánh tét bánh chưng cùng mua hoa đào, hoa mai để duy trì phong tục ngày Tết của ông ba ta truyền lại.

Giữ được phong tục ngày Tết, truyền lại cho con cháu tức là chúng ta tiếp tục truyền thống Việt Nam dù ở bất cứ phương trời nào.

Khánh Linh



Cạnh tranh và hoán đổi

Một cuộc tranh luận đã nổ ra tại một cuộc họp báo liên quan đến quốc hoa, quốc phục và quốc tửu của Việt Nam. Lý do để thuyết phục nên có cuộc tuyển chọn ba “quốc” này là nước ta đang hội nhập quốc tế, cần có những gì là đại diện cho hình ảnh quốc gia, để nói cho thế giới biết rằng “đó là Việt Nam”...

Cũng cái “mác” hội nhập quốc tế, từng dấy lên quan điểm cho rằng nên bỏ Tết Ta, xài Tết Tây cho khớp với lịch “ăn chơi” của thế giới (trừ một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Lào). Trước khi GS.TS nông học Võ Tòng Xuân công khai ý tưởng “động trời” này trên báo chí cách đây già 5 năm, cố GS. Nguyễn Xiển - một nhà lịch pháp Âm dương lịch từng đề xuất với Bác Hồ bỏ Âm lịch và thay bằng Dương lịch quốc tế. Một thí dụ thường được trích dẫn là Nhật Bản, chuyển sang dùng Dương lịch nhưng vẫn là một nước có bản sắc dân tộc rất rõ. Không những thế, văn hóa truyền thống lẫn văn hóa hiện đại của Nhật có sức sống lan toả rất mạnh mẽ.

Lập luận này càng được cổ vũ khi trên thực tế, Tết Tây đang “đổ bộ” ngày một mạnh mẽ trong sinh hoạt “ăn chơi” của người Việt Nam. Ngày đầu tiên của Năm mới dương lịch đang được quan tâm và trông đợi nhiều hơn, không chỉ bởi đó là dịp tổng kết, phát lương, phát thưởng. Người dân cũng nô nức “du xuân” - du lịch, vui chơi, mua sắm, tụ tập ăn uống. Nhiều người còn tranh thủ về quê thăm bố mẹ, ông bà. Ở một số nhà, người ta cũng mừng tuổi rồi chúc tụng nhau, đây đó còn thêm cả “tiết mục” xông đất…

Còn trong Tết Nguyên đán, cách nói “ăn” Tết dường như không còn phù hợp và người ta chú trọng “chơi” Tết nhiều hơn. Sự thiêng liêng ngày Tết Cả dường như đang bị hoán đổi bởi nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí. Phong tục sum họp gia đình tảo mộ, quây quần nấu bánh chưng, cầu cúng gia tiên có vẻ đang bị thú xem pháo hoa, du lịch “đe dọa”. Đặc biệt với giới trẻ, họ đang hướng tới cách chơi Tết theo kiểu phương Tây, đó là mở tiệc liên hoan lớn với rượu và sâm-panh hay đi chơi xa, thậm chí là nước ngoài.

Tết Tây hay Tết Ta đều định nghĩa cho một thời khắc giao thời giữa năm cũ và năm mới, theo chu kì một năm. Ai đó nói rằng có hạnh phúc thì mỗi ngày sống đều là ngày Tết…

Ở khía cạnh đó, Tết theo lịch “trên” hay lịch “dưới” đều là thể hiện ước mơ hạnh phúc của con người.

Hồng Phúc



Tết này có về không?

Sống ở Đức đã 5 năm nhưng tôi chưa có điều kiện được trở lại Việt Nam ăn Tết. Một số bạn bè của tôi đã làm quen và yêu thích không khí Tết Tây, nhưng tôi vẫn thèm và nhớ da diết cái Tết đầm ấm ở quê nhà.

Tôi làm việc trong một quán ăn nhỏ của người quen tại Dresden. Thành phố này nằm cạnh biên giới Cộng hòa Czech nên đi ngoài phố có thể gặp nhiều đồng hương từ bên đó sang làm ăn và giao lưu. Sống ở đây, tự nhiên mỗi năm tôi được đón liền hai cái Tết. Tết của người Đức được tổ chức rất vui nhộn với những bữa tiệc thịnh soạn nhưng tôi vẫn không có được cái cảm giác thiêng liêng như Tết truyền thống của mình.

Một điều khá đặc biệt, là mặc dù xa quê nhưng nhiều khi tôi lại không có cảm giác đang sống ở xứ người. Đó là những lúc đi chợ, cầm trên tay toàn hàng hóa “made in Vietnam” rồi giao lưu, chuyện tầm phào với các bà con cô bác xứ mình. Đó là những lúc về nhà, nấu nướng toàn các món kho, xào đậm vị nước mắm, nghe nhạc đỏ rồi xem chương trình VTV4. Dường như, tất cả không gian xung quanh đây đều thuần Việt cả.

Những năm trước, khi Tết đến, mấy người Việt đơn thân chúng tôi ở gần thường tập trung tại một nhà, rồi dắt nhau đi mua nguyên liệu về cùng gói bánh chưng, làm giò, làm nem. Chúng tôi còn đi mua quất cảnh được bán rất nhiều trong các siêu thị lớn của người Việt về trang trí cho nhà trọ. Hiện tại, vì mưu sinh, bạn bè của tôi đều sống phân tán khắp nơi, nhưng nhà nào cũng cố gắng chuẩn bị mâm cỗ cúng giao thừa với đầy đủ hương vị Tết quê như cá chép rán, gà luộc, bát canh miến… Ai cũng khẩn trương cho xong mọi công việc, có mặt kịp thời ở nhà đúng giao thừa theo giờ Việt để rồi vội vàng gọi điện về chúc Tết bố mẹ, anh chị em trong gia đình.

Tết này có về không? Đó là câu hỏi mà chúng tôi vẫn thường hỏi nhau vào cuối năm để hễ ai được về thì nhắn nhủ, ai không về được lại ngậm ngùi, tự động viên. Đã đành, bánh chưng xanh bây giờ ở đâu chả có, giò, thịt, mỡ, dưa hành cũng chẳng hề thiếu ở trời tây, thế nhưng, có không ít khoảng khắc ở nơi đây buồn đến nẫu ruột. Rõ ràng là Tết, mà ai đi làm cứ làm, ai bán hàng cứ bán, trẻ con đi học cứ học…

Năm nay vẫn chưa được về, tôi sẽ lại ghé qua các cửa hàng Việt để mua lá dong, lá chuối cùng thực phẩm về gói bánh chưng và tự chuẩn bị cho chính mình một cái Tết Việt gần đúng nghĩa. Không phải vào kỳ nghỉ, nhiều người có thể vẫn đi học hoặc đi làm, quán ăn của chúng tôi có thể vẫn phải mở cửa bình thường, nhưng chắc chắn tôi sẽ tranh thủ thời gian để đến dự lễ đón giao thừa ở Tòa thị chính do Hội người Việt Dresden tổ chức.

HỒNG HUÊ (từ Đức)


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]





    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0


    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ