BÀI CHỦ Thứ Năm, 02/06/2011-3:54 PM
Số 234: Khôi phục FDI
Ảnh minh họa
LTS: Trong một thời gian dài, Việt Nam đã theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, trong đó FDI chiếm gần 20% tổng đầu tư toàn xã hội. Khu vực FDI đóng góp trên 20% cho GDP, 40% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô). Việt Nam là một nước có mức độ phụ thuộc vào FDI cao nhất trong khu vực. Vì vậy, sự sụt giảm trên 47% vốn FDI đăng kí trong bốn tháng đầu năm 2011 so với cùng kì năm ngoái chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng GDP, xuất khẩu và việc làm của nước ta trong năm nay và các năm tới.

Những thăng trầm của dòng FDI

Hàng chục triệu người mất việc tại các khu vực ven biển chuyên về xuất khẩu, hàng ngàn nhà máy phải đóng cửa hoặc bỏ hoang do hàng hóa ế thừa hoặc đơn đặt hàng giảm, xuất khẩu giảm mạnh, giá bất động sản tại 70 thành phố lao dốc. Đó là một số hình ảnh dễ nhận thấy tại Trung Quốc, công xưởng của thế giới, vào cuối năm 2008 vừa qua.

Điều gì tạo nên những hình ảnh đáng buồn này? Xin được trả lời rằng, nguyên nhân là do dòng vốn FDI vào Trung Quốc giảm mạnh. Sự sụt giảm này được bắt nguồn từ hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đã biến thành cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009, khiến cho nền kinh tế thế giới thay đổi mạnh mẽ. Và trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, không một quốc gia nào có thể thoát khỏi sự tác động này.

Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, vốn FDI vào Trung Quốc đã giảm liên tục 10 tháng từ tháng 9/2007 và tháng 7/2008 chỉ đạt có 5,36 tỷ USD, giảm mạnh tới 35,7% so với cùng kỳ năm 2007. Không riêng Trung Quốc, nhiều nền kinh tế khác cũng phải chấp nhận thực tế không vui này. FDI của Mỹ năm 2009 đạt 137 tỷ USD, giảm 57% so với năm 2008. Theo tạp chí The Economist, sau đỉnh điểm đạt tới 2.080 tỷ USD của năm 2007, dòng FDI thế giới đã giảm 17% trong năm 2008 (còn 1.720 tỷ USD) và tiếp tục giảm 41% (còn 1.000 tỷ USD) trong năm 2009.

Xét trên khía cạnh khu vực, tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 - 2009 khiến dòng vốn FDI chảy vào các nước đang phát triển giảm 35% trong năm 2009 xuống còn 523 tỷ USD sau khi tăng 11% vào năm 2008. Trong khi đó, FDI vào các nước phát triển giảm 33% trong năm 2008 và tiếp tục giảm 45% xuống còn 488 tỷ USD vào năm 2009.

Sự suy giảm này cho thấy nguồn tín dụng sẵn có giảm, mức độ suy thoái nghiêm trọng ở các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển cũng như việc né tránh rủi ro trên quy mô rộng của các nhà đầu tư.

Xu thế vận động mới của FDI

Xu hướng chung là như vậy, tuy nhiên, cơ hội mới lại phát sinh trong thời kỳ khủng hoảng. Theo đánh giá của The Economist, trong giai đoạn 2008 - 2009, dòng vốn FDI giảm 50%, nhưng các thị trường đang nổi (TTĐN) lại là "điểm đến" của FDI.

Thị phần của các TTĐN trong dòng FDI toàn cầu có xu hướng tăng trong thời kỳ suy thoái vì việc mua bán và sáp nhập doanh nghiệp giảm mạnh ở các nước phát triển, trong khi hoạt động này tại các TTĐN đã được hỗ trợ bởi các yếu tố khác và làm cho thị phần của các nước đang phát triển trong dòng FDI toàn cầu tăng lên mức kỷ lục trong năm 2009.

Dòng FDI vào các TTĐN được giữ vững hơn vì hoạt động kinh tế của các nước này tốt hơn nhiều so với các nước phát triển, những nước chịu suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ chiến tranh thế giới thứ II đến nay. Cơ bản điều này có được là nhờ tốc độ tăng trưởng cao của Trung Quốc và Ấn Độ.

Ngoài ra cũng còn có các yếu tố khác dẫn đến việc thay đổi dòng FDI toàn cầu. Môi trường kinh doanh cải thiện ở TTĐN là "yếu tố kéo" và giúp hạn chế sự suy giảm của dòng FDI vào các nước này. Yếu tố cuối cùng là đầu tư của các nước này ra nước ngoài tăng, trong đó một phần của khoản đầu tư này lại nhằm đến chính TTĐN.

Bộ phận Phân tích thông tin kinh tế (EIU) thuộc tạp chí The Economist (Anh) gần đây cho biết sau khi giảm mạnh trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tài chính, trong năm 2011, tổng hợp các yếu tố như sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, lãi suất thấp, các tập đoàn đa quốc gia tập trung hơn vào việc mở rộng đầu tư và các TTĐN tiếp tục vững mạnh sẽ thúc đẩy FDI phục hồi mạnh hơn.

Khó trong ngắn hạn

Năm 2008 là một năm có ý nghĩa đối với Việt Nam. Cùng với việc trở thành thành viên chính thức của WTO, nền kinh tế Việt Nam đã đạt kỷ lục thu hút FDI với hơn 71 tỷ USD vốn đăng ký và 11,5 tỷ USD vốn thực hiện. Tuy nhiên, dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới khiến lượng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2009, giảm mạnh xuống còn hơn 23 tỷ USD và tiếp tục giảm xuống còn 18,5 tỷ USD vào năm 2010. Năm 2010, Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm lớn nhất khu vực xét về số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mới từ 256 dự án trong năm 2009 xuống còn 173 dự án. Còn trong 4 tháng đầu năm 2011, tính chung cả cấp mới và tăng vốn, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 4,024 tỷ USD, chỉ bằng 52,2% so với cùng kỳ 2010. Mục tiêu thu hút vốn FDI năm nay rõ ràng đang gặp rất nhiều khó khăn.

Theo ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư Nước ngoài và hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu đầu tư nước ngoài (CFIS) thuộc Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên nhân của sự suy giảm này một phần là do một số đối tác đầu tư truyền thống của Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan, EU, Hoa Kỳ... gần đây đã kiểm soát chặt chẽ hơn dòng vốn đầu tư ra bên ngoài, trong bối cảnh bản thân nền kinh tế các nước này chậm phục hồi. Tuy nhiên, cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, chính từ nội tại phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Nhiều yếu kém bộc lộ thời gian qua chậm được cải thiện như thiếu điện, cơ sở hạ tầng dịch vụ, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, thậm chí cấp phép một số dự án vẫn còn kéo dài... Những nguyên nhân này, có thể khiến một số đối tác đặt lại vấn đề khi đầu tư, ông Thắng nhấn mạnh và cho rằng, phải gỡ được một số nút thắt như vừa nêu, nếu không khả năng thu hút đầu tư nước ngoài sẽ giảm trong năm 2011.

Ông Louis Taylor, TGĐ Ngân hàng Standard Chartered tại Việt Nam cho rằng Chính phủ cần tập trung phát triển cơ sở hạ tầng là chính và nên nhường các cơ hội đầu tư vào sản xuất cho các doanh nghiệp tư nhân và FDI. Điều đó sẽ giúp Việt Nam thu hút đầu tư vào các hoạt động sản xuất nhiều hơn thay vì chính phủ bao trọn cả hoạt động sản xuất. Mặt khác, ông Taylor cho rằng, hiện nay, Chính phủ đang thực hiện chính sách bình ổn thị trường, như việc tăng tỷ giá, tăng lãi suất, khuyến khích người dân dùng tiền đồng trong các giao dịch thay vì đồng USD và vàng. Trong ngắn hạn, chính sách đó có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho các nhà đầu tư, nhưng qua thời gian về dài hạn sẽ củng cố niềm tin cho nhà đầu tư tại Việt Nam. Vì thế, ở thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp FDI sẽ có xu hướng dừng lại, muốn xem những chính sách của Chính phủ sẽ tác động như thế nào tới tốc độ phát triển của Việt Nam. Có thể vốn FDI vào Việt Nam sẽ tăng vào năm 2012 sau khi họ trải qua quá trình quan sát sự thay đổi của Việt Nam ở năm 2011 này, ông Taylor khẳng định.

Kiến nghị

Trước hết cần khẳng định rằng, Việt Nam tiếp tục cần và có thể thu hút nguồn FDI đáng kể. Như dân gian thường nói "có bột mới gột nên hồ". Cho dù lực của ta đã khác, khả năng huy động vốn và chế tạo trong nước đã tăng hơn trước nhiều nhưng vẫn cần lượng vốn đáng kể và công nghệ tiên tiến của nước ngoài.

Mặt khác, Việt Nam đang có vị thế kinh tế và chính trị quốc tế thuận lợi, được cộng đồng thế giới đánh giá cao, đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới và cam kết mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư trên thế giới vẫn dồi dào, nhiều công nghệ mới sẽ tiếp tục ra đời mà ta có thể và cần ra sức khai thác để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nhìn sang các nước trong khu vực đã thành công trong việc thu hút FDI từ rất lâu như Thái Lan, Singapore, Malaysia... đối với Việt Nam, những chính sách và chiến lược để thu hút có hiệu quả nguồn vốn FDI được triển khai quá chậm chạp và còn nhiều vấn đề tồn tại, đấy là chưa kể đến những bài học về việc bỏ lỡ nhiều cơ hội trong những giai đoạn đầu còn thiếu kinh nghiệm. Vì vậy, cần có một số giải pháp mới mẻ và toàn diện hơn nữa như:

Tập trung hơn nữa vào các chính sách dành cho FDI: FDI tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế và tác động này ngày càng mạnh mẽ. Trong các yếu tố tạo ra tăng trưởng, tỉ trọng của nguồn vốn, trong đó có vốn FDI cũng không ngừng tăng lên. Theo đó, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cần tập trung hơn nữa vào các chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI. Cần coi đây là công tác ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế của mình.

Đổi mới tư duy trong chính sách về FDI: Trong bất kỳ một vấn đề nào cần có những thay đổi đột phá, tư duy cũ mòn luôn là rào cản lớn nhất. Đối với tình hình thực tế ở Việt Nam, mặc dù xu thế hội nhập đang tác động vô cùng mạnh mẽ đến mọi hoạt động, nhất là hoạt động kinh tế, các quyết định đầu tư và nhận đầu tư cũng từ đó mà "mở" hơn rất nhiều. Tuy nhiên nhìn chung tư duy kinh tế kiểu "cũ" vẫn còn khá nặng nề và cần phải được đổi mới.

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư: Có thể nói, đây là nhóm giải pháp có tính chất dài hạn và khá "truyền thống". Tuy nhiên, "cải thiện" như thế nào, ở mức độ nào ở các giai đoạn khác nhau thì cần phải được nhìn nhận một cách linh hoạt, gắn với điều kiện thực tế của Việt Nam. Cụ thể là đảm bảo môi trường chính trị- xã hội ổn định, hoàn thiện môi trường pháp lý, bổ sung, sửa đổi, ban hành kịp thời các bộ luật nhằm phù hợp với hoàn cảnh thực tế thay đổi nhanh chóng, cải thiện hơn nữa trong lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…

Các giải pháp vĩ mô trước mắt: Giải quyết vấn đề thu hút FDI giảm trong 4 tháng đầu năm 2011 cần tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt chú trọng đến ổn định, kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá. FDI là vốn đầu tư và bản chất là tìm kiếm lợi nhuận, do vậy FDI sẽ chảy đến những nền kinh tế có tỷ suất lợi nhuận cao. Kiềm chế lạm phát sẽ tạo ra mức tỷ suất lợi nhuận thực tế ở mức cao hơn, điều này sẽ là nhân tố sống còn đối với quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, kiềm chế lạm phát sẽ giảm các chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp FDI, góp phần thu hút FDI một cách hiệu quả hơn.

Một nghiên cứu của VCCI mới đây cho biết hiện có 66% số doanh nghiệp FDI mong muốn mở rộng sản xuất tại Việt Nam trong vòng hai năm tới. Báo cáo này cũng cho rằng sẽ có những tiếp cận mới từ các nhà đầu tư nước ngoài. Thế hệ các doanh nghiệp FDI tiếp theo sẽ sử dụng qui trình quản lý, công nghệ hiện đại và nguồn lao động dồi dào trong nước, đồng thời, quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội. Như vậy, Việt Nam không chỉ cần những doanh nghiệp FDI tham gia sản xuất hàng hóa, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, mà còn cần những doanh nghiệp đầu tư mới vào những khâu giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất hiện nay. Thế hệ những nhà đầu tư mới này sẽ hoạt động ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thúc đẩy cải thiện chất lượng lao động dịch vụ, cơ sở hạ tầng cho Việt Nam hơn là tận dụng ưu thế chi phí sản xuất rẻ. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, muốn hấp dẫn được những doanh nghiệp FDI "đẳng cấp" đó, chính sách thu hút FDI của Việt Nam phải thay đổi trong đó phải chú trọng phát triển nguồn lao động, chất lượng cơ sở hạ tầng như điện, giao thông và cả vấn đề tuân thủ hợp đồng.

Tiên Phong


Châu Phi: Được và mất từ FDI

Dự án đập thủy điện Jinja (Uganda) khởi công cách đây khoảng 2 năm, với chi phí dự kiến là 860 tỷ USD, là một trong những khoản đầu tư nước ngoài tư nhân lớn nhất Lục địa Đen.

Uganda trông đợi dự án này sẽ giúp giải quyết vấn đề thiếu năng lượng vốn kìm hãm sự phát triển ở nước này, cũng là nơi những cuộc cắt điện liên tục trở thành mối phiền hà dai dẳng. Những dự án như con đập này là một ví dụ hoàn hảo giải thích lý do tại sao đầu tư tư nhân là cần thiết ở các nước châu Phi.

Dự án không chỉ thuê người làm công việc xây dựng mà còn giúp tạo ra hàng trăm công ăn việc làm khác. Trước khi khởi công con đập, Jinja chủ yếu được biết đến bởi thác Bujagali thu hút các tay đua xuồng khắp thế giới. Người dân quanh con đập thì vẫn kiếm sống như tổ tiên họ vẫn làm, nuôi gia súc và đánh cá pecca và tilapia ở sông Nile. Một số khác có nông trại nhỏ trồng chuối, ngô, bơ và xoài. Giờ đây 1.000 người dân từ Jinja và các khu vực lân cận đã được thuê làm việc. Một số làm xây dựng cơ bản, những người khác làm lái xe, liên lạc và quản lý cấp thấp... Các loại dịch vụ, từ ăn uống tới viễn thông cũng từ nơi đây mà phát triển.

Tuy nhiên, những lợi ích từ FDI không phải lúc nào cũng đến được với người dân địa phương. Đồng Chủ nhiệm ấn bản Tiêu điểm Chính sách Ngoại giao của Viện Nghiên cứu chính sách Washington - Emira Woods nhận thấy rằng, một số lượng đáng kể người dân vẫn bị mắc trong đói nghèo ở những quốc gia nhận được nhiều đầu tư nhất như Nigeria và Angola.

Theo nghiên cứu của Bà Woods, hầu hết nguồn đầu tư trực tiếp ở những nước đó rót vào "những ngành hấp dẫn" như dầu mỏ, khí đốt hay kim loại hơn là vào cơ sở hạ tầng. "Khoáng sản và hàng hóa được chất lên tàu hay máy bay và được điều ra ngoài nước, vì thế người dân ở đó thực sự không được lợi. Khó tìm được các ví dụ hay nơi đầu tư trực tiếp đang dẫn tới sự phát triển cụ thể thực sự". Các nhà đầu tư tư nhân chỉ bắt đầu để ý đến lục địa châu Phi kinh tế nghèo nàn nhưng giàu tài nguyên khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra.

Châu Phi tiếp tục giành được sự quan tâm nhiều nhất trong các chương trình nghị sự của các nhà đầu tư thế giới, với 42% giới đầu tư quốc tế đều có ý định mở rộng đầu tư tại châu Phi và 19% số doanh nghiệp khẳng định tiếp tục duy trì và đẩy mạnh các hoạt động đầu tư phát triển tại lục địa đen.

Ngọc Châu (Theo New York Times)





Thu hút FDI ở Châu Á

Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, Hàn Quốc... liên tục đứng vị trí cao trong bảng xếp hạng những quốc gia thu hút vốn FDI khu vực Châu Á. Điều gì làm cho những nước này hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài đến vậy?

Môi trường pháp lý

Đơn giản hóa thủ tục, quy trình đầu tư: Thủ tục một cửa đơn giản, với những hướng dẫn cụ thể tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư. Ở Thái Lan (TL) có Luật xúc tiến thương mại quy định rõ ràng cơ quan nào, ngành nào có nhiệm vụ gì trong việc xúc tiến đầu tư. Trung Quốc (TQ) thực hiện phân cấp, phân quyền, nâng cao quyền hạn nhiều hơn cho các tỉnh, thành phố, khu tự trị trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI.

Hàn Quốc (HQ) chú trọng xây dựng hệ thống luật đồng bộ, đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài được hưởng mức lợi nhuận thỏa đáng. Trung Quốc thường xuyên bổ sung, sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài, đảm bảo tính thực thi nghiêm túc.

Giảm thuế, ưu đãi tài chính tiền tệ

Cắt giảm thuế: HQ miễn giảm thuế 7 năm với doanh nghiệp FDI có vốn trên 50 triệu USD. Indonesia miễn thuế nhập khẩu, thuế doanh thu đối với hàng nhập khẩu dùng cho mục đích đầu tư...

Cho phép nhà đầu tư hoạt động trên thị trường tài chính: HQ cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hoạt động của TTCK, TT BDS, sáp nhập và mua lại các công ty trong nước, giao dịch ngoại hối...TQ mở rộng các quy định về ngoại hối, vay ngoại tệ: Doanh nghiệp FDI được cấp giấy chứng nhận quản lý ngoại hối, mở tài khoản ngoại tệ, vay vốn từ các ngân hàng TQ nếu được bảo lãnh bởi các cổ động nước ngoài.

Xây dựng cơ sở hạ tầng: Các nước châu Á như TL , TQ, HQ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà xưởng, đường giao thông, viễn thông, dịch vụ...nhằm tạo môi trường hấp dẫn và dễ dàng cho các nhà đầu tư khi hoạt động trên đất nước mình.

Phát triển nguồn nhân lực Thị trường lao động của Châu Á đặc biệt hấp dẫn bởi tỷ lệ lao động trẻ, giá thấp. HQ thực hiện hoạt động dự báo nhu cầu sử dụng nguồn lao động nhằm chủ động trong công tác đào tạo lao động. Ấn Độ và TQ đặc biệt chú trọng giáo dục đại học. Đặc biệt, Ấn Độ còn là nơi có nguồn nhân lực có trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Thu hút nhân tài

Không chỉ phát triển nguồn nhân lực trong nước, Singapore còn thực hiện nhiều chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài như cho phép người nước ngoài tham gia vào bộ máy nhà nước, nhập cư dễ dàng, đãi ngộ xứng đáng theo trình độ...

Phong Nhi





Ý kiến

The Financial Times: FDI vào các dự án tại châu Á Thái Bình Dương trong năm 2010 đã giảm năm thứ hai liên tiếp bất chấp nền kinh tế khu vực này đã có hồi phục hình chữ V sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Quốc gia có lượng FDI giảm nhiều nhất là Việt Nam, từ 256 chỉ còn 173 dự án. Sự suy giảm này phản ánh mối quan ngại về việc quản lý nền kinh tế đang đối mặt với lạm phát cao, đồng tiền tệ giá trị thấp và tình trạng tài chính công căng thẳng. Tương tự, các dự án vào Thái Lan cũng giảm 67 dự án xuống còn 209 dự án. Philippines đã bị loại khỏi danh sách top 10 điểm đến của đầu tư FDI khi lượng dự án giảm đi 21 còn 98 dự án.

The Economist: Có nhiều yếu tố tích cực đối với FDI. Lãi suất vẫn ở mức thấp, tăng trưởng kinh tế của các thị trường đang nổi vẫn tốt. Giá nguyên liệu tương đối cao sẽ củng cố dòng FDI chảy vào các thị trường đang nổi. Các tập đoàn đa quốc gia có dự trữ tiền mặt lớn và động cơ tăng doanh thu thông qua hoạt động mua bán doanh nghiệp. Thăm dò cho thấy ý định mua các công ty nước ngoài để mở rộng của các tập đoàn đa quốc gia trong năm 2011 sẽ mạnh hơn năm 2010.

Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố rủi ro lớn tác động đến triển vọng trên. Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu hay sự leo thang của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, có thể sẽ tác động nghiêm trọng đến FDI.

Ngân hàng Thế giới (WB): Mặc dù tăng trưởng của các nước đang phát triển ở châu Á tới 9,4% trong năm 2010 và có thể đạt 8,4% trong năm 2011 nhưng châu lục này vẫn đầy rủi ro đối với dòng FDI. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và lợi nhuận đầu tư ở châu Á không thể vô hiệu hóa những rủi ro cả về chính trị lẫn thương mại so với các thị trường phát triển.

Đông Á và Nam Á là hai khu vực cải tổ mạnh nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, đặc biệt trong hai lĩnh vực "bảo vệ các nhà đầu tư" và "tôn trọng hợp đồng," hai khu vực này được xếp thứ 2 và thứ 3 thế giới về ưu ái đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng bên cạnh đó, châu Á lại được đánh giá là khu vực thực hiện kém nhất, thậm chí dưới mức trung bình của thế giới, về các lĩnh vực được coi là rủi ro chủ chốt đối với các nhà đầu tư.

S.T


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]




    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0
    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ