BÀI CHỦ Thứ Sáu, 22/06/2012-12:32 PM
Lãi suất ngân hàng
LTS.  Cách đây 3 năm, trong một bài phân tích, Báo TG&VN từng viết: “Với lãi suất đi vay lên tới 20%/năm, dù có trồng cây gì, nuôi con gì đi nữa thì các doanh nghiệp cũng khó mà tồn tại”.  Nay đã có tin vui cho các doanh nghiệp vì kể từ 11/6/2012, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức áp dụng các mức lãi suất mới dễ chịu hơn.

Sau 7 năm: lại quay về mốc cũ

Theo quyết định ngày 11/6/2012 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNN), các mức lãi suất điều hành tiếp tục giảm 1%. Đối với trần lãi suất huy động không kỳ hạn và dưới 1 tháng, giảm từ 3% xuống 2%. Với lãi suất từ 1-12 tháng, giảm từ 11% xuống 9%. Với lãi suất trung và dài hạn trên 12 tháng sẽ do các tổ chức tín dụng tự thỏa thuận. NHNN tin rằng đây là bước đi để tiến tới gạt bỏ trần lãi suất huy động với tiền gửi VNĐ trong tương lai khi thời điểm thuận lợi đến. Từ 11-6, mức lãi suất trần cho vay giảm còn 13%/năm. Đây là tín hiệu tốt lành về kết qủa điều hành kinh tế vĩ mô và là niềm hi vọng cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn chưa thể yên tâm với quyết định này. Lượng vốn huy động liệu có giảm không? các doanh nghiệp có được bình đẳng tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ hơn hay không? vẫn là những câu hỏi lớn.

Phải mất 7 năm, kể từ năm 2005, lãi suất huy động VND mới trở về mốc cũ. Đó là 7 năm đầy biến động với nhiều xáo trộn trên thị trường tiền tệ, mở đầu bằng việc Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) là thành viên đầu tiên đưa mức lãi suất huy động VND vượt mức 9%/năm kỳ hạn 12 tháng. Song, phải 2 năm sau đó, cuộc đua lãi suất huy động VND mới chính thức khởi tranh với tín hiệu đầu tiên từ Ngân hàng Kỹ thương Techcombank, ở sản phẩm “Tiết kiệm điện tử” với lãi suất 9,48%/năm. Từ đầu năm 2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ, biểu hiện đầu tiên là sự leo thang của lãi suất qua đêm trên liên ngân hàng với các kỷ lục 20%, 25% và thậm chí lên đến 27 %/năm. Những tháng sau đó, cuộc đua diễn ra càng thêm căng thẳng. Và một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cũng là ngày 11/6 ba năm về trước, thị trường chứng kiến mức siêu lãi suất huy động 19,2%/năm cũng tại SeABank. Sau năm 2008 đầy biến động, lãi suất huy động và cho vay VND trong năm 2009 đều ổn định dần theo sự ổn định của lãi suất cơ bản. Tuy nhiên, căng thẳng của lãi suất huy động lại bắt đầu bộc lộ từ giữa năm này. Từ tháng 7 đến tháng 11, các ngân hàng thương mại liên tục tăng lãi suất huy động VND, tập trung từ các kỳ hạn dài và dồn ép các kỳ hạn ngắn. Mức lãi suất cao nhất lần lượt tạo các mốc 9%, 10% và đỉnh điểm lên đến 10,5%/năm. Bước vào năm 2010, những biến động nửa đầu năm đẩy lãi suất huy động VND lên quanh 11%/năm. Trước xu hướng biến động mạnh vào cuối năm, Hiệp hội và Ngân hàng Nhà nước đã họp với các thành viên, đồng thuận khống chế mức tối đa là 12%/năm. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều ngân hàng đã huy động vốn ở mức 13%, 14%, rồi 15%/năm…, các đồng thuận lãi suất 11%, 12% rồi 14%/năm được đặt ra nhưng đến đầu 2011 lại tiếp tục bị phá vỡ. Và ngày 3/3/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư chính thức áp trần 14%/năm, buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện nghiêm quy định trần, một số ngân hàng bị xử lý do sai phạm một số lại cho rằng bị các ngân hàng khác “cài bẫy“. Bước vào năm 2012, chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, Ngân hàng Nhà nước liên tiếp hạ trần lãi suất huy động VND, từ 14%/năm xuống còn 9%/năm có hiệu lực từ 11/6.

Câu chuyện dài về lãi suất.

Các cụ ta thường nói: „ buôn tài không bằng dài vốn“ và trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh mấy ai dám tay không bắt giặc. Khác với đa số các nền kinh tế trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn vay của ngân hàng kể cả vốn dài hạn bởi nguồn cung từ thị trường vốn như thị trường chứng khoán còn quá yếu. Ở Việt Nam, lạm phát thường ở mức cao nên các ngân hàng muốn có tiền để cho vay phải có mức lãi suất thực dương thì mới có thể huy động được tiền gửi. Sau khủng hoảng quỹ tín dụng nhân dân 1989, niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng bị sụt giảm nghiêm trọng, khiến người có tiền đều cất giữ tài sản tại nhà dưới dạng vàng, ngoại tệ... Điều này làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.

Để khôi phục niềm tin, NHNN đã thực thi chính sách lãi suất huy động thực dương. Lập tức, chính sách này đã phát huy hiệu quả góp phần thúc đẩy hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Chính sách này đã làm tăng tính hấp dẫn của kênh tiết kiệm so với đầu tư vào vàng, ngoại tệ, bất động sản…, qua đó giúp tăng nguồn vốn huy động của các ngân hàng để phân phối vốn đến các lĩnh vực có nhu cầu, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cùng với đó, chính sách lãi suất thực dương cũng khuyến khích người dân tiết kiệm nhiều hơn và do đó làm tăng nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế. Chính sách lãi suất thực dương đã góp phần to lớn vào việc kiềm chế lạm phát ở nước ta có lúc đã ở mức cực kỳ nguy hiểm.

Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế, nhưng quá trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong những năm vừa qua đã làm thay đổi một cách cơ bản nền kinh tế Việt Nam, điều này làm cho chính sách lãi suất thực dương trong một số trường hợp tạo ra các tiêu cực đối với nền kinh tế. Trước hết, chính sách lãi suất thực dương làm cho lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng tăng, làm tăng chi phí vốn và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế. Thứ hai, lãi suất thực dương trong nhiều trường hợp khuyến khích người dân gửi tiết kiệm thay vì đầu tư vào hoạt động kinh doanh. Chính sách này không tạo ra sự chia sẻ gánh nặng chi phí tài chính giữa người đi vay và người cho vay. Nhìn ra thế giới, ở các nước phát triển lãi suất huy động thường rất thấp, có nước như Nhật Bản chỉ trên 0%, ở Mỹ lúc cao nhất là 4,5 %...

Nửa mừng, nửa lo

Tiếp tục giảm lãi suất là một tín hiệu mạnh mẽ của NHNN, thể hiện quyết tâm giảm lãi suất cho phù hợp mức giảm lạm phát trong nước. Với mức giảm lãi suất lần này, các nhà quản lý và khoa học đều hi vọng rằng sau một thời gian nhất định, lãi suất cho vay cũng sẽ tiếp tục giảm đi, thị trường tài chính Việt Nam ngày càng năng động hơn. Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, trên thực tế, lãi suất cho vay không thể giảm ngay được bởi các NHTM đã huy động vốn từ trước đây với các mức lãi suất huy động cao hơn nhiều, do đó, các NH này sẽ cần một khoảng thời gian nhất định nhằm "trộn” các loại vốn này vào với nhau, từ đây đưa ra mức lãi suất hợp lý nhất. Do đó, chắc chắn rằng, sau khi có quyết định chính thức từ NHNN, các NHTM không thể giảm lãi suất cho vay ngay được, mức giảm sẽ từ từ và độ trễ vào khoảng 3 tháng.

Trước đó, NHNN đã ban hành thông tư bỏ trần lãi suất huy động VND đối với kỳ hạn dài bằng việc để tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định lãi suất huy động VND kỳ hạn từ 12 tháng trở lên trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường. Quyết định này nhằm tạo thuận lợi cho các TCTD huy động vốn để cân đối nguồn vốn cho vay trung, dài hạn. Ngoài ra, từ việc thả nổi lãi suất kỳ hạn dài, NHNN muốn tái lập đường cong lãi suất. Hướng người dân chuyển việc gửi tiền tiết kiệm kỳ hạn ngắn sang kỳ hạn dài. Hạn chế được tình trạng rất nguy hiểm mà lâu nay NHTM vẫn đang áp dụng "lấy ngắn nuôi dài”. Bởi thời gian qua huy động trên 12 tháng chiếm chỉ dưới 5% tổng vốn huy động, do vậy lãi suất có cao nhưng hòa vào lãi suất chung thì lãi suất bình quân huy động vẫn thấp.

Bên cạnh sự đón tiếp nồng nhiệt quyết định hạ lãi suất vẫn còn nhiều tâm trạng bất an của các doanh nghiệp. Họ cho rằng lãi suất huy động đã hạ từ 14% xuống 9%/năm trong một thời gian ngắn nhưng mục tiêu giảm lãi vay cũng như tiếp cận vốn ngân hàng của các doanh nghiệp hầu như không thay đổi. Lý do là ở mỗi lần điều chỉnh, bằng cách này cách kia, vẫn luôn có một "cánh cửa lợi ích" dành cho các NH. Nhìn bề ngoài thì chỉ có LS huy động kỳ hạn dài tăng nhưng thực chất, mặt bằng LS huy động nói chung, không những không giảm mà hoàn toàn có thể được đẩy cao thêm một bậc. Bởi các NH không khó để có thể vượt trần, lách trần. Đơn cử như việc cho phép rút vốn trước kỳ hạn mà không điều chỉnh LS. Nghĩa là người gửi tiền kỳ hạn 13 tháng với LS 14% nhưng 1, 2 hay 3 tháng sau khóa sổ, rút tiền, LS vẫn được tính 12 - 13% hay giữ nguyên 14%. Đầu vào tăng, đầu ra tất nhiên không thể giảm. Đó là lý do DN vẫn khó và gần như không thể tiếp cận được vốn rẻ. Một số nhà sản xuất thậm chí còn cho rằng , "cánh cửa lợi ích" cho các NH đã và đang có mặt ở hầu hết các chính sách tiền tệ của ta trong suốt thời gian qua. Tại sao LS giảm mà DN không thể tiếp cận vốn rẻ? Tại sao lại có ý tưởng dùng vốn ngân sách để mua nợ xấu cho những NH đã và đang lãi lớn...

Chỉ chưa đầy một tuần sau quyết định ngày 11/6, lãi suất tiền gửi dành cho kỳ hạn dài trên 12 tháng tại các ngân hàng chính thức bước vào vòng đua mới. Theo biểu lãi suất tiền gửi thông thường của Ngân hàng Phương Tây (Western Bank) áp dụng từ ngày 14-6-2012, mức cao nhất 13,5%/năm đã xuất hiện trên biểu niêm yết, áp dụng cho kỳ hạn 13 tháng lĩnh lãi cuối kỳ. Tại kỳ hạn 12 tháng, ngân hàng này cũng áp khá cao với 13%/năm. Các kỳ hạn 18, 24 và 36 tháng cùng ở mức 12%/năm. Một số NHTM khác như Techcombank cũng đã điều chỉnh lãi suất huy động lên mức 11% ngay từ ngày 13/6. Có ý kiến cho rằng việc chạy đua lãi suất các kỳ hạn dài có nguyên nhân từ một số NH gặp khó khăn về thanh khoản. Những NH này không thể vay vốn liên NH từ các NH lớn, do vậy đang tranh thủ chính sách thả nổi lãi suất kỳ hạn dài để đẩy lãi suất huy động lên cao nhằm thu hút vốn. Thậm chí các NH này còn biến vốn ngắn hạn thành dài hạn thông qua việc huy động kỳ hạn dài nhưng lại cho phép khách hàng thoải mái rút vốn trước hạn. Đó là một hình thức lách trần lãi suất kỳ hạn ngắn.

Dư luận cho rằng, NHNN đã không có tuyên bố rõ ràng nào cho thị trường. Việc làm của NHTM nâng lãi suất huy động kỳ hạn dài do vậy không hẳn sai cũng chẳng hẳn đúng. Song nếu không quản lý chặt chẽ, việc xé rào lãi suất này sẽ gây ra những hậu quả. Cũng bởi thế, còn khá nhiều ý kiến bi quan trước cuộc đua lãi suất huy động trong thời gian tới. Nhiều người hi vọng mức lãi suất huy động 14% của Ngân hàng Phương Tây có thể đã là “đỉnh” của cuộc đua huy động tiền gửi lần này. Và trong diễn biến mới nhất, chính ngân hàng này đã hạ lãi suất huy động kỳ hạn 13 tháng xuống còn 12,5%/năm, từ mức 14%/năm chỉ trước đó mấy ngày. Trong khi đó, các ngân hàng khác đã lui dần khỏi 12% khi rút xuống 11 – 11,5%. Có vẻ như chưa ai sẵn sàng và dám đương đầu trong cuộc đua mới.

Hiện nay trần lãi suất cho vay NHNN quy định là 13%/năm, có ngân hàng cho vay lãi suất 11%/năm, nhưng ngân hàng cho vay thấp chủ yếu là những NHTM nhà nước hoặc NHTM cổ phần có nhà nước chi phối (BIDV, Agribank, Vietinbank)…Tuy nhiên, theo quy định, trần lãi suất cho vay hiện nay chỉ có 4 đối tượng (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa)… các đối tượng khác áp dụng lãi suất cho vay thỏa thuận (bất động sản, tiêu dùng…). Hiện nay lãi suất thỏa thuận cao nhất khoảng 17,5-18%/năm. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng huy động tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, nguyên nhân do doanh nghiệp khó khăn, chỉ số hàng tồn kho, nợ xấu, năng lực tài chính…đều ở tình trạng báo động. NHNN đã ban hành nhiều chính sách cho vay, nhưng chủ yếu mở rộng đối tượng, chưa mở rộng điều kiện cho vay. Do đó, khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp vẫn hạn chế.

Việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng là công cụ hiệu nghiệm để điều tiết kinh tế vĩ mô, tuy nhiên nó chỉ phát huy hiệu quả trong hệ thống điều hành đồng bộ vì mục tiêu tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế.

Xuân Nguyên



Điều chỉnh không “khéo”, lạm phát có thể quay trở lại

Theo chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, hiện nay lạm phát đang đi xuống, thậm chí có thể âm một vài tháng là chuyện gần như có thể xảy ra.

PV: Nhiều ý kiến cho rằng, dù đã hạ trần lãi suất nhưng DN vấn rất khó tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp từ ngân hàng. Liệu vấn đề này đã tồn tại từ ngay sau lần điều chỉnh lãi suất đầu tiên?

Hiện nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới chỉ giải được bài toán lãi suất, dựa trên biến số lạm phát và kỳ vọng lạm phát. Còn việc giải quyết vấn đề tiếp cận tín dụng, theo tôi bản thân một mình NHNN cũng không thể xử lý được. Vì tiếp cận tín dụng có mấy vấn đề: thứ nhất, DN nào có đủ điều kiện vay thì lại không vay, họ vay để làm gì? Còn những DN muốn vay, bất chấp các mức lãi suất thì lại không đủ điều kiện để vay. Đây là vấn đề từ phía khách hàng đối với hệ thống ngân hàng. Thứ hai, bản thân hệ thống ngân hàng không phải không gặp khó khăn, bởi nợ xấu đang có xu hướng gia tăng. Chẳng hạn, nếu bây giờ có 1 DN đến “gạ gẫm” cho vay với lãi suất 3%, thì chắc chắn ngân hàng sẽ không dám cho vay, bởi vì như thế chắc chắn cả gốc DN này cũng không có khả năng chi trả, chứ đừng nói đến trả lãi.

Cái khó bây giờ nằm ở cả phía người đi vay, cũng như định chế tài chính. Bản thân định chế tài chính, nếu xử lý nợ xấu thì nằm trong chương trình xử lý nợ xấu. Còn đối với DN, điều kiện để vay phải chứng minh được có những dự án tốt… thì lại liện quan rất nhiều đến đầu ra. Tóm lại, nửa bài toán còn lại thì ngân hàng nhà nước chỉ mới xử lý được một phần, phần còn lại là thuộc về nhiệm vụ của cả nền kinh tế.

PV: Ông đánh giá thế nào về việc dù chúng ta đã cố gắng hạ lãi suất nhưng bản thân DN vẫn không thể tiếp cận được vốn?

Chúng ta phải quay lại bài toán giải quyết đầu ra cho DN. Tại sao lại không có đầu ra? Có thể là do DN sản xuất với giá cao quá, hoặc người tiêu dùng không có khả năng mua. Hiện nay phải ngồi “chia” đối tượng có tiền ở Việt Nam theo từng loại. Thứ nhất, muốn tiêu dùng, có nhu cầu tiêu dùng thực sự nhưng không có tiền. Thứ hai, có tiền nhưng không tiêu dùng. Câu hỏi đặt ra là: tại sao có tiền mà lại không tiêu? Có thể họ không tin vào niềm tin tiêu dùng. Thứ ba, có rất nhiều tiền, nhu cầu tiêu dùng đang rất cao, nhưng lại không tiêu dùng những sản phẩm của Việt Nam. Bây giờ phải làm thế nào để “đống tiền” này đem ra sản xuất, cung ứng hàng hóa để cân đối cung cầu. Có thể “bóp nghẹt” việc tiêu dùng bên ngoài để tiêu dùng hàng trong nước. Nhưng vấn đề này chắc không đơn giản. Chỉ có thể kích thích tiêu dùng hàng bên ngoài, nhưng đánh thuế thật cao để điều chỉnh cho những người không có tiền.

PV: Lạm phát tiếp tục có xu hướng giảm, theo ông thời gian tới lãi suất liệu có tiếp tục giảm nữa hay không?

Lạm phát đang có xu thế đi xuống, nhưng theo tôi tình trạng hiện nay của chúng ta giống trường hợp “đang đi trên dây”. Tức là, sợi dây đó đang có xu hướng đi xuống, nhưng chỉ cần bước “chệch” ra một chút thì lạm phát lại có thể dâng lên. Hiện nay lạm phát đang đi xuống, thậm chí có thể âm một vài tháng là chuyện gần như có thể xảy ra. Nhưng chỉ cần điều chỉnh chính sách tiêu thụ sản phẩm không “khéo” thì lạm phát cao rất có thể quay ngược trở lại. Đây chính là cái khó khăn nhất trong năm 21012 này.

PV: Nhiều DN cho rằng, mức lãi suất cần phải xuống thấp hơn nữa thì DN mới có thể “sống” được. Ông đánh giá thế nào về đề xuất này?

Bản thân DN chúng ta cũng phải ngồi chia ra. Năm 2011 có hơn 50.000 DN làm thủ tục giải thể và ngừng hoạt động; cập nhật đến 31/5/2012 có trên 21.000 DN thuộc diện khó khăn này. Vậy trong những DN đang tồn tại và DN đã bị khai tử, thì DN nào là đáng chết, nếu có cho vay lãi suất 0% thì cũng không thể sống được. Cái quan tâm hiện nay là những DN không đáng chết, nhưng bị chết bởi lãi suất cao, hàng hóa rất tốt nhưng không thể tiêu thụ được. Theo tôi, chúng ta phải cứu ngay những DN này.

Đúng như Bộ Tài chính nói, cần lựa chọn đối tượng để mà cứu. Nhưng không phải ban hành một chính sách cứu trợ mà lại có thể loại trừ được hoàn toàn câu chuyện đi chệch mục tiêu. Ví dụ, trường hợp gói hỗ trợ 4% lãi suất năm 2009, về nguyên tắc là có mục tiêu, có đối tượng. Nhưng cuối cùng đối tượng đáng được hưởng thì lại không được hưởng, đối tượng không được hưởng thì lại được.

Đi địa phương có một câu theo tôi rất hay: thế nào là xã nghèo. Đấy là xã nghèo đến mức không có tiền để chạy danh hiệu xã nghèo. Đây mới đích thực là xã nghèo, còn những xã được nhận danh hiệu là đã có tiền để “chạy” danh hiệu xã nghèo.

Cái quan trọng nhất của câu chuyện này là cơ chế để làm sao đi đúng mục tiêu. DN được cứu trợ phải là những DN không còn đủ lực để xin được cứu trợ. Để làm được thì rất cần có cơ chế tách biệt đâu là đối tượng cần cứu trợ thực sự, nếu không sẽ bị làm dụng.

PV: Xin cám ơn ông!

Việt Nguyễn thực hiện




Ý kiến

Wall Street Journal: “Chính phủ Việt Nam (VN) đang đối mặt với áp lực phải tìm cách để giảm lượng nợ xấu gia tăng trong các ngân hàng. Tình hình nợ xấu của VN đã làm gia tăng lo ngại về chất lượng vốn vay sẽ gia tăng ở các quốc gia khác tại châu Á”

Chuyên gia phân tích nợ Christian de Guzman, Moodys Investors Service: “Kế hoạch tái cơ cấu ngân hàng có vẻ như đang được thực thi chậm chạp, trong khi Chính phủ VN khó có đủ khả năng để hỗ trợ cả hệ thống ngân hàng do quy mô lớn của hệ thống này”

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đức Thành thuộc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách Việt Nam (VEPR): “Tình hình nợ xấu của Việt Nam hiện nay là nghiêm trọng, nhưng không phải tất cả các khoản nợ xấu đều không thể phục hồi. Trong thời gian 2012-2015, tôi cho rằng nền kinh tế sẽ hồi phục và các ngân hàng rồi sẽ khôi phục lại một phần nợ xấu”.

Ông Phạm Thiện Long, Phó Tổng Giám đốc HDBank: “Tôi cho rằng, lãi suất không phải là yếu tố quyết định để giữa DN với NH không có sự lưu thông với nhau, hoặc DN không có vốn để phát triển hoạt động kinh doanh, vì tỷ trọng phụ thuộc vào vay NH chiếm không nhiều trên tổng số vốn của DN. Hiện tại các NH sẵn sàng chấp nhận lợi nhuận ít hoặc không nhiều, chỉ cần 1% hoặc 2%, nếu khách hàng DN tiếp cận nguồn vốn này có hoạt động kinh doanh, khả năng tài chính tốt, đủ đảm bảo cho NH thu hồi được vốn. Tuy vậy, hiện nhiều DN không đáp ứng được điều kiện đó. Bản thân DN không làm gì để kiếm được tiền, không thu hồi được vốn bỏ ra, cho nên lãi suất giảm chỉ giúp cho một số DN. Và đây chính là điểm ách tắc”.

Ông Guy Stear, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu về châu Á tại ngân hàng Societe Generale của Pháp: “Việt Nam đang đi đúng hướng. Tuy nhiên, nợ xấu của Việt Nam có thể báo trước cho những rắc rối xảy đến ở các nước khác trong khu vực. Châu Á nói chung đang kết thúc chu kỳ cho vay và tỷ lệ nợ xấu đang ở mức thấp của chu kỳ. Tỷ lệ này có thể gia tăng ở hầu hết các nền kinh tế châu Á trong vòng hai năm tới”.

Thành Châu (st)


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]




    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0

    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ