BÀI CHỦ Chủ Nhật, 17/06/2012-12:14 AM
Môi trường làng nghề
Ảnh minh họa
LTS. Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm, gắn liền với bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế-xã hội. Chuyển mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế, khôi phục làng nghề luôn là một trong những chủ trương của Chính phủ và nhà nước ta. Tuy nhiên, sự phát triển làng nghề trong nhiều năm qua đã xuất hiện nhiều vấn đề nan giải, trong đó có nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng cần phải có biện pháp giải quyết kịp thời.

Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 3.597 làng nghề, thu hút 30% lực lượng lao động nông thôn. Sự phát triển của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60% - 80% đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm và góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động. Mở cửa, hội nhập, các làng nghề còn có cơ hội giới thiệu sản phẩm của mình với khách nước ngoài. Đó là những mặt hàng xuất khẩu mạnh có xuất xứ từ các làng nghề truyền thống trong cả nước như thủ công mỹ nghệ, thêu ren, gốm sứ.... Thế nhưng, sản xuất càng phát triển, môi trường ở các làng nghề càng xuống cấp nghiêm trọng. Thách thức lớn nhất là làm thế nào vừa phát triển mạnh kinh tế làng nghề vừa không ô nhiễm môi trường, để phát triển làng nghề một cách bền vững.

Trăm kiểu ô nhiễm

Trước đây, khi chưa bị ô nhiễm, dòng sông Nhuệ, Hà Nội từng được dùng làm nơi thả cá và lấy nước sinh hoạt. Những năm gần đây, môi trường con sông này bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2009 hàng chục tấn cá đã chết trên sông Nhuệ kéo dài 7 km đoạn từ Mễ Trì (Từ Liêm) đến quận Hà Đông. Nguyên nhân chính là do dọc sông Nhuệ có rất nhiều cửa cống thải của các làng nghề, các cụm công nghiệp, trong đó có làng Lụa Vạn Phúc Hà Đông. Năm 2010, nước thải của Hà Nội đổ về tỉnh Hà Nam qua sông Nhuệ đã dẫn đến tình trạng cá chết hàng loạt trên sông Châu Giang gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi trên đoạn sông này. Ở một số làng làm bún, làm giày da ở huyện Gia Lộc, Hải Dương, rác và nước thải đang ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của nhân dân. Đáng lo ngại là nguồn nước, đất và không khí bị ô nhiễm ở đây đều vượt nhiều lần các chỉ tiêu về vệ sinh môi trường. Dù đã áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, nhưng chuyển biến về môi trường ở làng giết mổ gia súc Văn Thai (Cẩm Giàng) vẫn chưa đáng kể. Thôn Mạn Đê, Nam Sách cũng từng là một điển hình về môi trường xanh- sạch, nay cũng đang kêu cứu vì rác và nước thải của làng nghề chế biến nông sản.

Dạo qua các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh lại có những hình thức ô nhiễm khác. Một nghiên cứu mới đây được thực hiện tại làng nghề tái chế nhôm xã Văn Môn (huyện Yên Phong) và làng nghề tái chế sắt phường Châu Khê (thị xã Từ Sơn) cho biết, lúa gạo thu hoạch tại ruộng đất của 2 làng nghề này có hàm lượng chì và asen cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với những vùng khác. Nguyên nhân bị ảnh hưởng là do Văn Môn có làng nghề tái chế nhôm và kim loại màu lớn nhất miền Bắc, tập trung chủ yếu ở thôn Mẫn Xá. Nghề tái chế kim loại phát triển với quy mô tương đối lớn với 8.000 - 10.000 tấn phế liệu/năm được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào, chủ yếu là nhôm, chì.

Ô nhiễm môi trường còn đang tác động xấu đến những mô hình phát triển kinh tế khác tại các địa phương, kìm hãm sự phát triển du lịch làng nghề… Cùng với vấn đề ô nhiễm, hạ tầng cơ sở như đường sá chật hẹp, kém chất lượng khiến cảnh quan du lịch làng nghề trở nên thiếu thông thoáng. Bên cạnh đó, hoạt động của các làng nghề lại gây ô nhiễm, làm suy thoái môi trường. Ở những địa phương có nghề chế biến nông sản, chăn nuôi giết mổ gia súc, gia cầm, dệt nhuộm, hay những làng nghề tái chế giấy, môi trường càng bị ô nhiễm nặng hơn.

Những con số báo động

“Hơn 90% làng nghề trên cả nước vi phạm pháp luật về môi trường" – nhận định của Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường (C36 - Bộ Công an) tại một cuộc hội thảo năm 2009 khiến nhiều người phải giật mình. Kết quả quan trắc của Bộ Tài nguyên và Môi trường thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm của các làng nghề có xu hướng tăng. Đáng chú ý là nước thải từ quá trình nhuộm và nhúng bóng sản phẩm mây tre đan chứa nhiều chất gây ô nhiễm như dung môi, dầu bóng... Hàm lượng COD và BOD5 trong nước thải của các làng nghề này thường vượt tiêu chuẩn từ 2 đến 8,5 lần... Tình trạng chung đối với các làng nghề là phần lớn chất thải rắn không được thu gom, xử lý mà xả thẳng vào môi trường.

Tại nhiều làng nghề, tỉ lệ người mắc bệnh đang có xu hướng gia tăng. Nhiều nghiên cứu cho thấy tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn 10 năm so với tuổi thọ trung bình toàn quốc. Thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2008 cho biết, tại các làng sản xuất kim loại, tỉ lệ người mắc các bệnh liên quan đến thần kinh, hô hấp, ngoài da, điếc và ung thư chiếm tới 60% dân số. Đối với các làng tái chế giấy, cho thấy 16% - 53,7% dân số bị mắc bệnh phổi, ngoài da, thần kinh do chịu sức ép từ khói bụi, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, hóa chất và các khí độc như Cl2, H2S... Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, tỉ lệ người mắc các bệnh về đường ruột với 58,8% dân số, đường hô hấp là 44,4% dân số.

Nan giải nguyên nhân

Thời gian qua, Luật Bảo vệ môi trường 2005 và nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn đã được ban hành. Báo cáo về Môi trường Quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề" đã đánh giá khá đầy đủ hiện trạng, tác hại của tình trạng ô nhiễm và các giải pháp để khắc phục nhưng đến nay, môi trường các làng nghề vẫn tiếp tục suy thoái. Biểu hiện rõ nhất là các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề nhìn chung còn thiếu và chưa cụ thể chức năng, nhiệm vụ về bảo vệ môi trường làng nghề. Đặc biệt, chúng ta còn chưa có một văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về bảo vệ môi trường làng nghề, phân cấp quản lý và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đối tượng.

Có lẽ, nguyên nhân sâu xa nhất đến tình trạng ô nhiễm hiện nay là do sự phát triển các làng nghề một cách tự phát theo kiểu “trăm hoa đua nở”. Theo bà Hoàng Ánh- Cục Kiểm soát ô nhiễm- Tổng Cục Môi trường thì “gần như 100 % cơ sở sản xuất tại làng nghề không tuân thủ các quyết định thanh tra, cưỡng chế, không nộp phí bảo vệ môi trường, không có thủ tục, hồ sơ về môi trường và ở cấp quản lý nhà nước tại các địa phương thì cũng không có cán bộ chuyên trách quản lý môi trường làng nghề. Đặc điểm ở các làng nghề là các hộ đều tận dụng diện tích đất ở để làm cơ sở sản xuất, với quy mô sản xuất nhỏ. Do vậy ô nhiễm môi trường làng nghề là tập hợp của nhiều hình thái ô nhiễm được tạo ra từ những cơ sở sản xuất nhỏ với mô hình công nghệ khác nhau.

Hiện tại, nguồn lực tài chính đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề hạn chế. Trước khó khăn này, ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng: “Để tạo điều kiện cho làng nghề phát triển, cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện Đề án tổng thể xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề cũng như các thông tư quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, công tác thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường làng nghề, xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với chất thải của sản xuất”.

Liệu “quả bóng” có bị đá quanh?

Bảo vệ môi trường làng nghề là vấn đề được quan tâm của cả xã hội. Mới đây vào tháng 2/2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thông báo nội dung chuẩn bị cho Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục và cải thiện ô nhiễm môi trường. Theo đó, Bộ sẽ dành 1.400 tỷ đồng xây dựng các dự án thí điểm xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường cho 8 loại hình làng nghề gây ô nhiễm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Theo ông Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường thì xử lý ô nhiễm phải bắt đầu từ việc ngăn chặn không để phát sinh các điểm ô nhiễm mới. Chủ trương của các dự án là phân loại thành 3 nhóm, Nhóm A: được phép hoạt động trong khu vực dân cư; Nhóm B và Nhóm C: không được phép thành lập mới, nếu đang hoạt động phải đầu tư hệ thống xử lý chất thải đạt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Nếu không phải di dời vào khu công nghiệp hoặc khu chăn nuôi, khu sản xuất tập trung bên ngoài khu dân cư hoặc chấm dứt hoạt động trước ngày 1/1/2017.

Mặc dù vậy, chúng ta cũng phải đồng ý rằng việc xử lý ô nhiễm trước hết phải là trách nhiệm của người gây ra ô nhiễm. Các cơ sở sản xuất làng nghề để tồn tại lâu dài nhất thiết phải tuân thủ các quy định pháp luật bảo vệ môi trường. Với thời gian và nguồn ngân sách còn hạn chế, Chương trình Mục tiêu quốc gia không thể xử lý hết các điểm ô nhiễm (đặc biệt các cơ sở tái chế kim loại là đối tượng thuộc Nhóm C là nhóm có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường cao). Vì vậy, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề là một quá trình lâu dài với lộ trình cụ thể. Các Bộ ngành trung ương, chính quyền địa phương các cấp và các cơ sở sản xuất làng nghề phải cùng vào cuộc một cách quyết liệt, đồng bộ vì các mục tiêu phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới Việt Nam.

Và những mảng sáng...

Với khoảng 11 triệu lao động, giá trị to lớn của làng nghề Việt Nam không chỉ ở chỗ tạo ra nhiều việc làm, sản xuất ra nhiều hàng hóa phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, mà quan trọng hơn là đang lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống rất quý báu của dân tộc.

Ở Nhật Bản, thành công của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” đã khuyến khích nỗ lực của người dân địa phương trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống và thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Phong trào này do Giáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng từ năm 1979, hiện đã được áp dụng thành công tại nhiều quốc gia Châu Á và châu Phi. Từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các thương hiệu sản phẩm nổi tiếng của Nhật Bản, ông Hiramatsu nêu ba nguyên tắc chính là địa phương hóa, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá cũng như chú ý bảo vệ môi trường cảnh quan. Không chỉ là làm quà tặng cho du khách, mỗi làng nghề cần phải trở thành thế mạnh và tạo ra các sản phẩm chất lượng cho địa phương.

Một kinh nghiệm thực tiễn khác có thể thấy rõ ở Làng gốm Bát Tràng, Hà Nội. Trước năm 2006, hơn 700 hộ sản xuất ở đây đều nung gốm bằng công nghệ lò hộp truyền thống. Vì vậy, địa phương đã tiêu thụ hết khoảng 4.000 tấn than/năm, xả ra môi trường hàng trăm mét khối khí và nước thải mỗi ngày khiến ao hồ, kênh mương toàn một màu đen kịt, cá tôm không thể sống sót. Khi một số tổ chức y tế và môi trường công bố kết quả điều tra thì người ta mới nhận ra rằng, cứ 5 người dân Bát Tràng thì có 1 người mắc bệnh liên quan đến khói than. Đầu năm 2006, UBND xã Bát Tràng đã triển khai dự án “Thúc đẩy ứng dụng lò ga nung gốm tiết kiệm năng lượng”. Nhờ ưu điểm làm bằng sợi bông thuỷ tinh, có hệ thống cách nhiệt và xử lý chất thải khí hiệu quả, hiện trên 95% các hộ sản xuất gốm ở Bát Tràng đã chuyển từ lò đốt than sang công nghệ lò nung ga.

Đến Bát Tràng ngày nay, người ta có thể thoải mái hít thở không khí trong lành mà không lo sợ mùi khói than nguy hiểm. Điều tuyệt vời nhất là làng nghề gốm sứ Bát Tràng đã trở thành làng du lịch đặc trưng và là một trong những tên tuổi có uy tín và thương hiệu lớn mạnh hàng đầu về gốm sứ trong và ngoài nước. Có thể nói, đây chính là mô hình mẫu và cũng là một mảng sáng trong bức tranh môi trường làng nghề còn khá nhiều mảng tối ở Việt Nam.

VŨ THỊ HƯƠNG



Sản xuất sạch ở làng nghề: Bức tranh sẽ sáng, nếu...

Để độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề Môi trường làng nghề, phóng viên Báo TG&VN đã ghi lại những chia sẻ của Ths. Nguyễn Hồng Long (Trưởng phòng nghiên cứu và phát triển, Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam, Điều phối viên khu vực của Dự án đổi mới sản phẩm bền vững) về những khó khăn, thách thức trong triển khai các dự án cung cấp giải pháp sản xuất sạch cho người dân làng nghề ở Việt Nam.

Ths. Nguyễn Hồng Long đang khảo sát ở một cơ sở làm mộc.

Sản xuất sạch (Cleaner Production) có thể hiểu là luôn tìm kiếm các giải pháp sản xuất sạch hơn, sạch hơn nữa, cải tiến hơn nữa mà không dừng lại… Đó không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là bảo vệ môi trường mà nó còn có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề xã hội.

Thỏa hiệp với ô nhiễm

Ở Việt Nam, làng nghề có vai trò rất lớn, vì nó tạo công ăn việc làm cho hàng chục triệu người, tỷ lệ tệ nạn xã hội thấp và thu nhập bình quân đầu người đều cao. Nhưng ngược lại, tuổi thọ của người dân làng nghề lại thường thấp hơn tuổi thọ bình quân của người dân cả nước đến 10 năm và đặc biệt là ô nhiễm làng nghề rất lớn. Đó bắt nguồn từ vòng luẩn quẩn: Nguồn thu từ sản phẩm không cao nên người làng nghề phải áp dụng công nghệ thấp khiến năng suất kém và tác hại đến môi trường cao.

Mặt khác, đã là nông thôn, ngoài thiếu thốn về mặt vật chất, về khoa học kỹ thuật thì có một sự thực rõ ràng là đội ngũ lao động ở đây hạn chế cả về nhận thức. Người dân dễ dàng thỏa hiệp, chấp nhận sống chung với rác, với ô nhiễm, ý thức giữ gìn môi trường không cao… Tất cả những yếu tố đó cộng hưởng với nhau tạo ra một định dạng là tình trạng môi trường ở các làng nghề vượt quá khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái.

Trong bối cảnh đó, nếu như không có bất kỳ sự tác động tích cực nào thì xu hướng môi trường làng nghề sẽ ngày càng trầm trọng hóa mà bản thân nông thôn sẽ không giải quyết được. Mà ở đây, để áp dụng thành công các ứng dụng sản xuất sạch hơn vào các làng nghề ở Việt Nam thì mô hình đồng bộ nhất kết hợp được những tác động từ trên xuống và từ dưới lên.

Tác động từ trên xuống là nguồn lực kinh tế và chính sách của Trung ương, còn từ dưới lên chính là bài toán cần có sự quyết tâm không chỉ của địa phương mà của cả các doanh nghiệp, của từng hộ dân làng nghề. Đó là định hướng đã được vạch rõ từ rất lâu nhưng để làm được, giải quyết được vấn nạn ô nhiễm làng nghề và chuyển hướng sang sản xuất sạch, sản xuất bền vững là một câu chuyện khá dài. Chừng nào người dân còn có cách sản xuất thay thế rẻ tiền hơn, tâm lý ngại thay đổi và không có giải pháp hữu hiệu, kinh tế trong tay thì sẽ khó thuyết phục được người dân chạm tay vào sản xuất sạch.

Mặt khác, trong triển khai các dự án cung cấp giải pháp sản xuất sạch thì ở làng nghề là khó nhất, vì đối tượng tiếp cận là những người nông dân. Tư duy của họ hết sức chân thật, người thật việc thật, phải có cách thức tiếp cận phù hợp, bằng phương pháp trực quan… Và, nói với người dân làng nghề là một chuyện, họ có tin hay không là một chuyện và có làm theo hay không là chuyện hoàn toàn khác…

Mấu chốt tài nguyên con người

Để giải quyết khó khăn đó, phải làm cho người dân thấy được cái lợi khi áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sạch. Chẳng hạn như khi triển khai dự án tại làng nghề cơ khí mà người dân có dùng công nghệ phun sơn tĩnh điện. Có mục sở thị nơi này mới thấy khủng khiếp khi các xưởng sơn khồng hề có thiết bị hút chân không và bụi sơn tự do bay mù mịt trong không khí.

Các điều phối viên tính toán, với mức độ thất thoát bột sơn như vậy, mỗi năm, chủ xưởng sẽ mất khoảng 16 triệu đồng tiền sơn và môi trường làm việc của thợ sơn vô cùng độc hại. Sau khi được dự án đầu tư hệ thống hút chân không với chi phí chỉ hơn 10 triệu đồng, chủ xưởng sơn này đã có cái nhìn khác hẳn với khái niệm “sản xuất sạch hơn”, vì không chỉ tiết kiệm được lượng sơn thất thoát mà thay vì phải đeo tới hai khẩu trang khi làm việc, thợ sơn có thể vừa sơn vừa… ăn kem mà không ngại hít bụi sơn vào phổi.

Ví dụ trên cho thấy yếu tố kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cung cấp các giải pháp sản xuất sạch hơn cho các làng nghề, vì bản chất người nông dân thường chỉ nghĩ đến tiết kiệm và lợi nhuận chứ điều kiện lao động có độc hại vẫn cố chịu đựng.

Trong hiện tại, bức tranh môi trường làng nghề tuy ảm đạm nhưng trong tương lai xa vẫn có thể thấy những điểm sáng khả quan. Người Việt Nam có ưu điểm là khả năng tự xoay xở rất tốt và rất nhạy bén. Khi được tiếp cận với công nghệ mới là họ có thể học hỏi rất nhanh, ứng dụng nhanh và cải tiến nhanh. Vì thế, đứng trước nguy cơ tụt hậu như hiện nay chính là áp lực buộc chúng ta phải thay đổi để thích nghi với các giải pháp phát triển bền vững.

Việt Nam có rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu nhưng tính bình quân đầu người thì tài nguyên thiên nhiên của nước ta vào loại thấp trên thế giới – do dân số quá đông với mật độ quá cao. Vì thế, phải nhìn nhận rằng, tài nguyên của Việt Nam chính là con người Việt Nam. Một người nông dân mà cả đời không phải dùng đến tri thức khoa học trong cuộc sống, trong lao động so với những người từng ngày, từng giờ phải tìm cách áp dụng khoa học để làm ra của cải vật chất thì hiệu quả có thể khác nhau hàng chục, hàng trăm lần...

Khánh Nguyễn (ghi)





Ý kiến

Nhà nước cần sớm có chính sách cho làng nghề, theo đó phải bổ sung vào hệ thống văn bản pháp lý của Trung ương và địa phương về công tác bảo vệ môi trường cụ thể đối với các làng nghề như các Thông tư, quy chế bảo vệ theo từng loại hình sản xuất và đặc thù của địa phương. Điều quan trọng phải tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý và chế tài xử phạt các hành vi gây ô nhiễm của cơ sở sản xuất nghề. PGS.TS Đặng Kim Chi, (ĐH Bách khoa Hà Nội)

Chúng ta dường như quan tâm nhiều đến dự án tỉ USD, trăm triệu USD của các nhà đầu tư mà không quan tâm vai trò nhà nước trong việc hỗ trợ tổ chức sắp xếp để làm sao làng nghề truyền thống có thể phát huy được và gắn truyền thống với hiện đại để hội nhập và phát triển. Bóng dáng nhà nước với vai trò "bà đỡ" cho làng nghề phát triển dường như rất ít. Nếu làng nghề phát triển thì mới giảm dần việc di cư từ nông thôn ra đô thị, áp lực đô thị hóa. TS. Trần Du Lịch (Tp.HCM)

Trước khi tiến hành tái cơ cấu làng nghề, phải tổng điều tra, đánh giá thực trạng làng nghề trên phạm vi toàn quốc. Đi đôi với quy hoạch, tổ chức lại làng nghề theo quy mô tập trung nhằm xử lý chất thải theo đúng tiêu chuẩn cho phép, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân làng nghề về vốn vay để họ đổi mới trang thiết bị, sản xuất theo tiêu chuẩn “xanh” tăng giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Vũ Quốc Tuấn, Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề

Cần phải có quy định cụ thể về trách nhiệm và phân cấp cụ thể công tác môi trường làng nghề cho một bộ, ban, ngành cụ thể. Thêm vào đó Nhà nước cũng cần phải cấp thêm tiền ngân sách cho công tác quản lý môi trường các làng nghề thông qua xây dựng các công trình bảo vệ môi trường và xử lý ô nhiễm làng nghề, đồng thời nâng cao công tác tuyên truyền phổ biến chính sách cũng như có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội cùng tham gia công tác bảo vệ môi trường. Lê Hồng Sơn, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]







    Chùm Bài chủ Thế giới & Việt Nam
    Nguồn nước và An ninh lương thực Cải cách thi cử
    Việt Nam và EU Lãi suất ngân hàng
    Môi trường làng nghề NATO đang vươn vai
    Du lịch liên kết Pháp và châu Âu
    Khắc phục đình trệ Tổng thống Putin 2.0


    Số 234: Khôi phục FDI Số 233: Nhà ở xã hội
    Số 232: Cắt giảm chi tiêu Số 231: Khủng bố hậu bin Laden
    Số 230: Du lịch Biển đảo Số 229: Tái thiết Nhật Bản
    Số 228: Cu-Ba đổi mới Số 227: Dự báo động đất
    Số 226: Kịch bản Libya Số 225: Mặt trái hạt nhân
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ