Gặp người ở Biên giới phía Tây...
“Vừa gặp nhau, chưa kịp hỏi han, bạn bè đã kêu: Đi đâu về à? Sao đen và gầy thế?” - chị Kiều Thị Hằng Phúc, Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Biên giới Quốc gia, hồn nhiên mở đầu câu chuyện như vậy. Chợt nhìn thấy chiếc máy ghi âm, chị “giật mình”- “đừng ghi câu này vào nhé, chẳng hợp với phụ nữ biên giới tí nào”. Tôi hiểu, là phụ nữ, không ai muốn nghe những câu hỏi như vậy, nhưng với chị, đó lại là niềm tự hào.
Với 15 năm công tác ở Vụ Biên giới phía Tây, chị Phúc đã đến nhiều nơi tại vùng đất này. Mỗi chuyến đi là một kỷ niệm, nhưng chuyến đi mà chị cho rằng “đã giúp mình cảm thấy gắn bó và yêu nghề hơn” là đợt đi khảo sát, xác định vị trí mốc tại cửa khẩu Tịnh Biên (An Giang). Đó là một ngày cuối năm 2007. Đoàn tới nơi đúng 12 giờ trưa. Vừa bước xuống xe, chị đã bị hoa mắt chóng mặt bởi cái nắng cháy da cháy thịt nơi đây – “vậy nhưng khi nhìn thấy người dân hai bên biên giới tấp nập gùi hàng trao đổi cho nhau, tự nhiên cảm giác mệt mỏi tan biến và thấy vui vì mình đã có mặt ở đây để thực hiện một nhiệm vụ hết sức cao cả là xác định vị trí cột mốc, xác định chủ quyền của đất nước mình...” - chị tâm sự.
Từ chuyến đi đó, chị Phúc nhận ra con người cũng giỏi sức chịu đựng trước thiên nhiên khắc nghiệt, nhất là đối với những người làm công tác phân giới, cắm mốc. Cũng như các chiến sĩ biên phòng, họ trèo đèo, lội suối, đi bộ hàng chục cây số đường rừng với ba lô, cơm nắm, muối vừng...
Còn chuyến đi mà chị nói rằng “không hiểu sao mình lại vượt qua được”, là lần đi khảo sát thực địa xác định vị trí mốc ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia (2006).
Hồi ấy, chỉ một mình chị là phụ nữ trong đoàn. Đến Kon Tum, kế hoạch thống nhất là hôm sau đi thực địa. Ông Giám đốc Sở Ngoại vụ khẳng định chị sẽ không thể đi được, nên bố trí cho chị ở nhà làm nội nghiệp và còn đùa với chị rằng “nếu em quyết định đi, anh cũng đi”... Không ngờ hôm sau thấy chị Phúc khăn gói theo đoàn thật. Thế là đoàn lại có thêm một thành viên “bất đắc dĩ”, “vì quân tử nhất ngôn”, mà đã chót hứa như đinh đóng cột với “nữ nhi thường tình” rồi! - “nói nhỏ nhé, đồng chí không cao, nhưng béo, đi lại bình thường còn khó nhọc, huống chi đi biên giới!” - chị Phúc cười hóm hỉnh khi nhớ lại chi tiết này.
Xe chở đoàn từ thị xã Ngọc Hồi lên đến ngã ba Đak Sú. Đến đây, đoàn phải thuê một loại xe “chuyên dụng” mà người dân gọi là xe Reo (giống xe tải). Cả đoàn ngồi lên chiếc thùng xe đi vào rừng. Gọi là rừng, nhưng cây cối không nhiều, đường lại hẹp, còn hai bên là vực sâu - “ngồi trong thùng xe, bao vây là các anh, nhưng tôi không dám nhìn xuống vực mà nín thở mong nhanh đến nơi tập kết”.
Rồi xe đi đến một cái dốc dựng đứng, mấy thanh niên vội vàng nhảy ra khỏi thùng. Nhưng với chị Phúc, và một vài người nữa, trong đó có ông Giám đốc sở Ngoại vụ, phần vì mệt, phần vì “ngại đi bộ” nên “cứ ngồi lì trên đó”. Khi xe lên dốc, mọi người trôi dạt xuống cuối thùng, lúc xe đổ dốc, cả nhóm lại dạt về phía trước. “Giây phút ấy, trong đầu tôi chỉ có một câu hỏi: nhỡ xe chết máy thì sao? rồi rất nhanh đưa ra câu trả lời: thì cả xe sẽ rơi xuống vực chứ còn sao nữa...” - kể đến đây chị Phúc hít thở một hơi thật sâu - “mình đoán rằng lúc đó ai cũng nghĩ như vậy”.
Còn khoảng 2km nữa thì đến khu vực để xác định vị trí, nhưng không có đường cho xe chạy, cả đoàn phải xuống leo bộ. “Đoạn này cũng gian nan lắm, có gần 2 km mà sao xa thế, đôi chân rã rời như không phải của mình” - chị nhớ lại. Nhưng rồi, người trước, người sau, cuối cùng cũng đến được đích. Khu vực ngã ba biên giới là một quả đồi rộng, vị trí là điểm cao nhất của quả đồi. Đứng đây có thể gọi điện cho người thân của cả ba nước mà không bị tính cước quốc tế.
Ông Giám đốc Sở Ngoại vụ Kon Tum nói rằng có lẽ chị là người phụ nữ đầu tiên đặt chân lên vị trí này. “Khi đứng đây, tôi mới thấy hết ý nghĩa của chủ quyền lãnh thổ luôn là hệ trọng và thiêng liêng đối với mỗi quốc gia, dân tộc và thấy cần phải có trách nhiệm hơn với công việc được giao và thấm thía lời căn dặn của Bác Hồ: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” - chị Phúc tâm sự với vẻ tự hào ánh lên trên khuôn mặt.
Đến người ở... Biển
Nói về những khó khăn, vất vả trong công tác biên giới của một phụ nữ, chị Nguyễn Thị Hường, Vụ Biên giới Việt-Trung, cho rằng đó là điều bất ngờ, bởi “chẳng bạn đọc nào để ý”. Thuyết phục mãi, chị bảo: “chỉ kể một kỷ niệm nhỏ thôi”.
 |
| Chị Hường trong chuyến ra Trường Sa. |
Năm 1995, vừa tốt nghiệp, chị được nhận về công tác tại Vụ Biển. Ngày đó, những khái niệm pháp lý, dù đã học mãi trong trường, nhưng khi đi làm rồi chị mới hiểu: như chủ quyền, quyền tài phán, thềm lục địa, rìa lục địa..., đặc biệt Trường Sa - Hoàng Sa thiêng liêng vô cùng.
Như một sự may mắn tình cờ, tháng 6/1995, khi Bộ Giao thông Vận tải khánh thành đèn biển tại đảo Đá Lát (Quần đảo Trường Sa), chị Hường là nữ duy nhất được tham gia chuyến đi đáng nhớ đó. Giây phút đặt chân lên boong tàu Biển Đông 02, chị thấy tim mình như thắt lại, bởi chị sẽ được tận mắt chứng kiến “Bãi cát vàng”, thấy “Quần đảo Bão Tố”, thấy những địa danh lịch sử - nơi mà chị mới chỉ đọc trên sách vở - thấm đẫm máu, mồ hôi và nước mắt của lớp lớp người Việt Nam, như “đội Hoàng Sa”, đội “Bắc Hải” và nay là những chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng...
Vài giờ đầu tiên, khi tàu chưa ra đến hải phận quốc tế, chị vẫn thấy dễ chịu và thầm nghĩ “thế mà mọi người bảo là gian khổ, mình vẫn đi được có sao đâu?”. Khi cơm trưa được dọn ra, chị vẫn chưa hiểu tại sao các cạnh bàn lại được đóng cao lên thêm 10-15cm. “Hóa ra đó là cách để giữ thức ăn không bị sóng đánh ra khỏi bàn” – chị Hường cười tươi như khám phá ra một điều bí mật.
Tàu càng ra xa, số người ngồi trên boong càng ít, chị bắt đầu thấy người nôn nao, chân tay nặng trĩu, hình ảnh người thủy thủ trước mặt cứ mờ dần, mờ dần... “Lại say rồi!” - chị loáng thoáng nghe tiếng ai nói như vậy...
Trong mênh mông biển nước, chị nhìn thấy cá heo đuổi theo tàu. “Sâu chút nữa sẽ còn gặp cá mập”, thuyền trưởng thông báo. Là nữ duy nhất, chị được ưu tiên buồng của thuyền phó, các anh căng võng để có thể đung đưa theo nhịp sóng. Qua cánh cửa nhỏ, biển tối sẫm một màu và xa xa chỉ còn những đốm lửa trên biển - “đấy là khí đồng hành từ các mỏ dầu do PetroVietnam khai thác”. Đêm đầu tiên chị không sao ngủ nổi. “Tôi bật dậy, chạy rất nhanh xuống hầm tàu để tìm áo phao. Rất nhiều, nhưng khi cầm lên, tôi tự hỏi: những chiếc áo phao nhỏ bé thế này có giúp người không biết bơi như mình chống chọi lại sóng, gió và độ sâu gần 3.000m” - chị Hường tiết lộ.
Ngày thứ hai, cả tàu bất ngờ khi Thuyền trưởng thông báo “Sắp có bão”. Sao lại thế, mặt biển vẫn xanh thắm, tĩnh lặng cơ mà?… Không phải chờ lâu, sóng gió bỗng nổi lên và con tàu nhỏ bé như chìm đi trong giông bão. “Sóng vỗ mạn tàu ầm ầm, tôi cố căng mắt nhìn xem có chạm cột cờ không, nhưng chịu. Cảm giác rất khó chịu vì tàu lắc kinh khủng, mưa bão mịt mù. Chẳng ai muốn ăn uống gì cả...”. Và cũng thật bất ngờ, chỉ sau một đêm, nắng đã lên, mặt biển lại trong xanh, phẳng lặng như chưa hề có trận cuồng phong ngày hôm qua. Nhưng có một điều kỳ lạ, trên tàu ai cũng đen nhẻm, khô khốc do mất nước – “tôi lại càng tồi tệ, đã gầy, bé lại càng quắt queo hơn...”.
“Sắp đến đảo”, khi nghe thông báo, mọi người hô vang, nhoài hết ra khỏi boong tàu. Giây phút đặt chân lên đảo với chị Hường không lời nào tả nổi. “Tổ quốc mình đây, địa đầu sóng vỗ có lẽ phải nơi đây mới đúng” – chị tự hào kể lại. Không thể kể hết được về tình cảm của anh em trên đảo dành cho Đoàn, những nụ cười, những giọt nước mắt, những cái bắt tay thật chặt, “tôi đã không cầm được nước mắt khi đứng chụp ảnh bên tấm bia chủ quyền” - “Phải tươi lên, các thủ trưởng ơi” – và rồi ai cũng cười. “Vậy là từ nay trên đảo có thêm đèn biển. Chủ quyền của đất nước lại được khẳng định thêm”… Nói đến đây, chị Hường đứng dậy lấy con ốc nón – món quà quý từ Trường Sa do các chiến sĩ tặng riêng cho chị - thầm thì: “Ốc có nhớ sóng biển như mình nhớ Trường Sa không nhỉ ?”.
Một phút im lặng trong xúc động, chị kể tiếp: Thủ tục khánh thành đèn biển rất nhanh, Đoàn rời đảo trong những tiếng thở dài nhè nhẹ tiếc nuối... Suốt một hành trình rất dài trên đường về, vắng những câu chuyện cười, dường như ai cũng trầm lắng hơn và “say sóng” chỉ còn là chuyện nhỏ. Và điều lớn nhất đọng lại trong chị là câu hỏi: Mỗi lúc hoàng hôn, các anh có ngồi lặng im ngắm sóng biển, có nhớ về đất liền – nơi quê hương khi chiều về có khói lam chiều lãng đãng bay, nơi có người vợ, người mẹ vẫn chờ các anh. Bài học lớn bắt nguồn từ những điều rất nhỏ: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay” - một chiến sĩ trẻ trên đảo khẽ hát như vậy khi chị hỏi anh đã mấy cái Tết chưa về nhà...
Vâng, những tình cảm trong sáng của các anh, có cả những nỗi buồn, nỗi nhớ nhà..., nhưng trên hết là sự trung kiên, lòng quả cảm của người con đất Việt trong công cuộc bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.
*
Khi ngồi viết bài này, tôi gọi điện cho chị Hường nói sẽ đặt tên bài là Những bóng hồng nơi biên giới, chị bảo hãy lấy một cái tên gì đó thật giản dị, chứ “bóng hồng” nghe yểu điệu quá, không hợp với những người làm biên giới khô khan... Nhưng với những ai đã từng gặp các chị - cũng như tôi – chắc chắn sẽ không nghĩ như vậy!
Hải Hiền