Chính trị Thứ Sáu, 09/07/2010-8:15 AM
Quan hệ Việt-Mỹ 15 tuổi: Thành tựu và triển vọng
Bài của TNS John Kerry, viết riêng cho TG&VN

Quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai dân tộc Việt – Mỹ không đến một cách nhanh chóng và dễ dàng. Đó là cả một quá trình vất vả, đòi hỏi cả tầm nhìn, nỗ lực và đồng thuận của cả hai bên. Nghịch lý là, chính những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến – những cựu chiến binh lại là những người đặt nền móng đầu tiên cho tiến trình hòa bình và hòa giải giữa hai dân tộc. Tại Mỹ, những tổ chức hay gia đình của cựu chiến binh-những người đã phải nén nỗi đau trong nhiều năm, luông ngóng tin về số phận những người thân yêu của mình nơi chiến trường thì giờ đây lại là những người đưa ra những hỗ trợ chính trị then chốt cho Lộ trình (Roadmap) bình thường hóa quan hệ, mà nhờ nó hai nước chúng ta có được quan hệ như ngày hôm nay.

20 năm trước, tôi đã vinh dự cùng với những người bạn cựu chiến binh của mình tại Quốc hội, như thượng nghị sĩ John McCain, Chuck Robb, Bob Kerrey, Chuck Hagel và Pete Peterson đi đầu thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ, và đỉnh điểm của quá trình này ngày 11 tháng 7 năm 1995. Vào chính ngày này, Tổng thống khi đó là Bill Clinton nhận thấy rằng những người ủng hộ bình thường hóa quan hệ đã bao gồm nhiều nhóm đa dạng, từ Đảng Cộng hòa đến Đảng Dân chủ, từ tự do đến bảo thủ-với những cách nhìn khác nhau về cuộc chiến. Những gì chúng tôi chia sẻ ở đây đó chính là quyết tâm chung trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh của nước Mỹ và mở ra một trang mới trong quan hệ với kẻ thù trước đây. Chúng tôi muốn có một ngày mà người dân Mỹ khi nghe tới từ “Việt Nam” thì họ nghĩ về một đất nước chứ không phải nghĩ về chiến tranh.

15 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của quyết định bình thường hóa quan hệ khi đó. Việt Nam đã nổi lên là một trong những câu chuyện Châu Á thành công. Chính sách cải cách kinh tế với tên gọi ĐỔI MỚI đã mang lại một thời kỳ tăng trưởng nhanh chóng. Từ 1995, GDP của Việt Nam đã tăng trung bình hơn 7% mỗi năm, đứng thứ hai sau Trung Quốc. Hàng triệu người Việt Namđã thoát cảnh nghèo đói, cơ sở hạ tầng được nâng cấp và những dịch vụ cơ bản đã được đưa tới những vùng xa xôi của đất nước.

Về chính trị, Việt Nam đã gia nhập vào một khu vực mà trước đó Việt Nam còn rất xa lạ. Việc ASEAN mở rộng khi Việt Nam gia nhập vào năm 1995 đã biến tổ chức này từ một liên minh chống cộng thành một phương tiện thúc đẩy hội nhập và gắn kết khu vực. Vào năm nay, quá trình hội nhập này đã hoàn thành chu kỳ với việc Việt Nam lãnh trách nhiệm chủ tịch ASEAN. Chính sách đối nội của Việt Nam đang dần thay đổi, ngày càng trở nên cởi mở và minh bạch. Bản báo cáo mới nhất về nhân quyền của Bộ Ngoại giao (Mỹ) ghi nhận Quốc hội Việt Nam đang đóng “…một vai trò ngày càng độc lập hơn, như là một diễn đàn cho đại biểu của các địa phương và tỉnh thành, và như là một kênh phản biện đối với tệ tham nhũng và tính thiếu hiệu quả ở tầm địa phương và tầm quốc gia, đồng thời đã đạt được tiến bộ trong việc thúc đẩy sự minh bạch trong hệ thống luật pháp và điều hành.”

Giờ đây đã đến lúc của những triển vọng to lớn trong quan hệ Việt - Mỹ. Những lợi ích song trùng về kinh tế và chiến lược đang tạo ra nhiều cơ hội mang tới những lợi ích chung trong các lĩnh vực như thương mại, giáo dục, bảo vệ môi trường và an ninh. Các quan hệ thương mại và đầu tư từ lâu đã đóng vai trò là động cơ thúc đẩy quan hệ song phương tiến lên phía trước, đi đôi với cam kết kinh tế của Mỹ, đã giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi nhanh chóng của Việt Nam. 15 năm trước, hầu như không có đầu tư nào của Mỹ tại Việt Nam và thương mại song phương đạt mức khiêm tốn khoảng 451 triệu đô la hàng năm. Năm ngoái, Mỹ đã trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam và thương mại hai chiều đã lên đến 15 tỉ USD. Chúng ta đã làm được rất nhiều kể từ những ngày đầu khi Thượng nghị sĩ McCain và tôi nỗ lực đấu tranh nhằm bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đã áp dụng 25 năm đối với Việt Nam. Nhưng chúng ta còn có thể làm nhiều hơn thế nữa.

Vào đầu năm nay, Mỹ đã bắt đầu quá trình đàm phán với Việt Nam và 06 đối tác khác về hiệp định thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (PTT) nhằm tạo ra một hợp tác thương mại tiêu chuẩn cao của thế kỷ 21, với các điều khoản mạnh mẽ và minh bạch về lao động, môi trường, tài sản trí tuệ, các điều khoản này sẽ tạo ra khuôn khổ cho hội nhập kinh tế khu vực rộng lớn. Nền kinh tế đang ngày càng mở và được điều hành theo luật của Việt Nam vẫn đang tiếp tục hấp dẫn giới kinh doanh của Mỹ. Với những thành quả của cuộc cải cách kinh tế mang lại, tôi hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục chính sách phát triển theo định hướng kinh tế thị trường, đấu tranh chống tham nhũng, tăng cường bảo vệ sở hữu trí tuệ và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động.

Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục cũng là một cầu nối quan trọng giữa hai nước. Việt Nam là một nước có dân số trẻ với 22 triệu dân (vào khoảng ¼ tổng dân số) ở vào độ tuổi dưới 15. Như vậy, thế hệ tiếp sau của Việt Nam cần những trường học gần nhà, những ngôi trường có thể tạo ra “môi trường thực hành tốt nhất” và chuẩn bị cho sinh viên Việt Nam tốt hơn trước khi bước ra môi trường cạnh tranh quốc tế trong kỷ nguyên của toàn cầu hóa hiện nay. Tôi từ lâu đã là một người ủng hộ cho trường Fulbrighrt tại thành phố Hồ Chí Minh, và sự thành công của ngôi trường này đã chứng minh rằng: một thể chế đào tạo cao học độc lập và do Mỹ điều hành vẫn có thể thành công rực rỡ ngay trong lòng Việt Nam. Tôi hy vọng rằng, như là một phần của cam kết sẽ nâng cao lĩnh vực giáo dục của Việt Nam, Chính phủ Việt Nam sẽ công nhận giá trị thương mại và xã hội của việc mở cửa lĩnh vực giáo dục của mình cho các trường đại học nước ngoài và xóa bỏ những hạn chế trong nghiên cứu, viết và đàm luận độc lập về khoa học và kỹ thuật.

Một lĩnh vực khác nữa tôi nhận thấy hai nước phải nhân đôi hợp tác, đó là về môi trường. Báo cáo mới nhất của Liên hợp quốc và của Ngân hàng phát triển Châu Á, cùng với những nghiên cứu của Chính phủ Việt Nam, đã chỉ ra mức tăng nước biển, tần suất xuất hiện ngày càng nhiều và độ phá hủy ngày càng nghiêm trọng của các trận bão, hiện tượng hạn hán lan rộng và sự xâm lấn của nước biển đối với Việt Nam - một nước đông dân nằm trong vùng thấp. Tôi đã bàn bạc với các nhà lãnh đạo Việt Nam về hậu quả an ninh lương thực cũng như kinh tế có thể xảy ra và họ đã nhận thức rõ những thách thức do thay đổi môi trường gây ra.

Đây là lúc chính phủ hai bên phải cùng bắt tay vào hành động. Mỹ luôn sẵn sàng hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực như thu thập dữ liệu, phổ biến nguồn năng lượng mới, công nghệ than sạch để giúp Việt Nam đối phó với thay đổi môi trường. Năm ngoái, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cùng với bộ trưởng ngoại giao các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã đưa ra Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong, như là một biện pháp đẩy mạnh hợp tác khu vực về vấn đề môi trường, y tế và giáo dục. Vào mùa xuân vừa rồi, Mỹ và Việt Nam đã tổ chức cuộc họp đầu tiên của Nhóm Làm việc Việt-Mỹ về thay đổi môi trường, và sau đó đã đã được thỏa thuận ban đầu về phát triển năng lượng hạt nhân dân sự thông qua tối đa hóa an toàn và an ninh hạt nhân, và tối thiểu hóa các rủi ro phát tán hạt nhân.

Ngoài những nỗ lực mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác của trên các lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, môi trường và sức khỏe, thì giờ đây hai nước còn có thể cùng nhau trao đổi về các vấn đề an ninh, một lĩnh vực mà vài năm trước không được đề cập tới. Tại Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân tháng 4 vừa qua ở Mỹ, và tại cuộc gặp vào tháng 6 vừa qua ở Hà Nội, các quan chức cao cấp của Mỹ đã cam kết cùng tham gia với đối tác Việt Nam trong vấn đề chống phổ biến hạt nhân, chống khủng bố, nhân đạo, cứu trợ thiên tai và an ninh hàng hải. Năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam đã lần đầu tiên thăm Mỹ, góp phần mở rộng dần dần các liên hệ giữa hai cơ quan an ninh quốc gia của hai nước.

Gần 20 năm trước đây, tôi đã cùng Thượng nghị sỹ McCain nỗ lực thúc đẩy tìm kiếm danh sách đầy đủ những tù nhân Mỹ trong chiến tranh và những binh lính Mỹ mất tích (vấn đề POW/MIA), và hỗ trợ các quân nhân Mỹ chịu hậu quả của chất độc màu da cam. Vào thời điểm đó, một số người cho rằng cuộc tìm kiếm của chúng tôi là nhiệm vụ không hề “dễ dàng và không phải ai cũng muốn làm”. Nhưng sau 8 cuộc viếng thăm cá nhân đến Việt Nam, chúng tôi đã thu thập trong tay hàng ngàn tư liệu và hình ảnh, hàng trăm chứng thực, nhiều lời khai từ phía gia đình thân nhân, chủ tịch các hội cựu chiến binh, các quan chức tình báo, nhà ngoại giao,…Cuộc điều tra của chúng tôi đã dần xây dựng được lòng tin từ hai phía và đặt nên những viên gạch đầu tiên cho tiến trình bình thường hóa giữa hai nước Việt Nam và Mỹ. Chúng tôi đã tạo nên được sự đồng thuận cần thiết nhằm kết thúc giai đoạn cấm vận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong quá trình đi tìm câu trả lời cho hàng trăm gia đình đang ngóng chờ tin tức từ những cuộc tìm kiếm, vốn được coi là chiến dịch quy mô, đầy đủ và toàn diện nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh. Đối với đất nước mình, những việc chúng tôi làm đã góp phần khiến nước Mỹ phải quan tâm hơn đến những vấn đề chưa được tháo gỡ, vẫn còn tồn đọng qua hai thập kỷ và dần hàn gắn vết thương của cuộc chiến tranh

Tôi thấy rất tự hào và phấn khởi vì những nỗ lực mà chúng tôi đã và đang làm nhằm giải quyết những di chứng của chiến tranh, trong đó có việc tìm cách giúp Việt Nam tìm kiếm những người Việt Nam mất tích trong chiến tranh, mà con số này còn vượt xa con số của chúng tôi. Ngày nay, mặc dù còn nhiều tranh cãi xung quanh hậu quả của chất độc da cam/dioxin, nhưng tôi được biết Chính phủ Mỹ cũng đang làm việc chặt chẽ với phía Việt Nam nhằm giải quyết các hậu quả môi trường và sức khỏe do dioxin để lại. Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse và tôi đang cố gắng tìm nguồn tài trợ cho việc tẩy rửa những vùng đất bị nhiễm chất độc xung quanh sân bay quôc tế Đà Nẵng, nơi lực lượng Mỹ từng sử dụng.

Khi Việt Nam đổi mới và chuyển mình, thì đất nước đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề khu vực và thế giới, như đã đảm nhiệm vị trí thành viên không thường trực HĐBA năm ngoái và năm nay là Chủ tịch của ASEAN. Về phần mình, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Obama, Mỹ đang tái cam kết với khu vực Đông Nam Á, và coi Việt Nam như là một trụ cột quan trọng trong hợp tác với khu vực và với các thể chế như ASEAN hay Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Với vị trí chủ tịch của ASEAN, Việt Nam có cơ hội thúc đẩy vai trò của ASEAN như là một tổ chức giải quyết các vấn đề khu vực, từ vấn đề biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải đến những những điểm nóng như Myanmar và Bắc Triều Tiên. …

Bốn mươi năm trước, hàng trăm ngàn quân nhân Mỹ đã đến Việt Nam để tham chiến thì nay, riêng năm ngoái đã có 350 ngàn người Mỹ đến Việt Nam để du lịch và kinh doanh. Chúng ta đã đi qua một chặng đường dài. Tương lai của quan hệ Việt Mỹ có thể và nên ngày càng tươi sáng vì lợi ích chung. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng 15 năm tiếp theo, mối quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ còn thành công hơn nhiều so với 15 năm đã qua./.

TNS John Kerry


Normalization at Fifteen: Progress and Promise

By Senator John Kerry

It is easy to forget that normalization did not come quickly or easily. It was a painstaking process that required vision, hard work, and compromise. Those advocating normalization risked being labeled traitors in both countries. Paradoxically, forging peace and reconciliation between the United States and Vietnam was ultimately led by those who had been most engaged in waging war – the veterans. Particularly in the United States, the veterans’ organizations and the families of Vietnam War veterans, many of whom endured years of heart-wrenching uncertainty about the fate of their loved ones, provided the critical margin of political support for the normalization “roadmap” that has brought us to today.

Twenty years ago, I was proud to join with my fellow Vietnam War veterans in Congress, particularly Senators John McCain, Chuck Robb, Bob Kerrey, and Chuck Hagel, and Representative Pete Peterson, to help lead the process of normalization that culminated on July 11, 1995. On that day, then-President Bill Clinton noted that the advocates of normalization were a diverse lot – Republican and Democrat, liberal and conservative – who had their differences over the war. What we shared was our determination to bind up the nation’s wounds and build a new start with a former adversary. We wanted to arrive at a day when Americans would hear the word ‘Vietnam’ and think of a country – not just a war.

In the past 15 years, the wisdom of normalization has been amply proven. Vietnam has emerged as one of Asia’s success stories. The economic reform policies collectively known as doi moi (“change and newness”) ushered in a period of rapid growth. Since 1995, Vietnam’s real GDP growth has averaged over 7% per year, second only to China. Millions of Vietnamese have been lifted out of poverty, infrastructure has been improved, and basic services have been extended into remote regions of the country.

Politically, Vietnam has been integrated into a region from which it was once estranged. The expansion of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) to include Vietnam in 1995 began the transformation of ASEAN from an anti-communist alliance into a vehicle to promote regional integration and cohesion. This year that process has come full circle with Vietnam serving as chair of ASEAN. Vietnam’s domestic politics are also gradually changing, becoming more open and transparent. As the most recent State Department human rights report notes, the National Assembly is playing, “…an increasingly independent role as a forum for local and provincial concerns and as a critic of local and national corruption and inefficiency, and [has] made progress in improving transparency in the legal and regulatory systems.”

Now is a time of great promise in U.S.-Vietnam relations. Overlapping economic and strategic interests provide opportunities to build on common interests in the areas of trade, education, environmental protection, and security. Our trade and investment ties have long served as the engine to propel our relationship forward, with U.S. economic engagement helping to spur Vietnam’s rapid transformation. Fifteen years ago, there was almost no U.S. investment in Vietnam, and bilateral trade hovered modestly around $451 million annually. Last year, America became Vietnam’s largest foreign investor, and two-way trade topped $15 billion. We have made great progress from the days when Senator McCain and I were struggling to lift a 25 year-old trade embargo with Vietnam. But we can do more.

The United States started negotiations this spring with Vietnam and six other partners on the Trans-Pacific Partnership (TTP) trade agreement to create a high-standard, 21st Century trade deal with strong and transparent labor, environmental, and intellectual property provisions that can provide a platform for region-wide economic integration. Vietnam’s increasingly open and rule-based economy continues to attract U.S. businesses. Given the impressive results of its economic reforms, I hope Vietnam’s government will continue to pursue market-oriented development, fight corruption, strengthen intellectual property protections, and enhance its labor standards.

Cooperation in the field of education is another important bridge between our two societies. Vietnam is a young country, with 22 million people (roughly one-fourth of the population) under 15 years of age. Ultimately, Vietnam’s next generation needs schools close to home that observe “best practices” in education and can better prepare Vietnamese students for competition in the era of globalization. I have long been a supporter of the Fulbright School in Ho Chi Minh City, and its success demonstrates that independent, U.S.-run institutions of higher learning can flourish inside Vietnam. I hope that as part of its commitment to strengthening Vietnam’s education sector, the government will recognize the societal and commercial value of opening up its education sector to foreign universities and eliminating existing restrictions on independent scientific and technical research, writing, and discourse.

Another area where I hope our two countries can redouble our cooperation is on the environment. Recent United Nations and Asian Development Bank reports – along with Vietnamese government studies – describe how rising sea levels, the increased frequency and intensity of typhoons, and drought and salt-water intrusion could affect Vietnam, with its heavily-populated, low-lying areas. I have discussed the potential economic and food security consequences with Vietnam’s leaders, and they appreciate the challenges posed by climate change.

It is time to turn our mutual concern into joint action. The United States stands ready to work with Vietnam in areas like data collection and dissemination, renewable energy, and clean coal technology to help it adapt to climate change. Last year, U.S. Secretary of State Hillary Clinton joined with the foreign ministers of Cambodia, Laos, Thailand, and Vietnam to create the Lower Mekong Initiative, as a way to enhance regional cooperation on the environment, health, and education. This spring, the United States and Vietnam held the first meeting of the U.S.-Vietnam Climate Change Working Group, and later reached a preliminary agreement to expand civil nuclear power in a manner intended to maximize nuclear safety and security and minimize proliferation risk.

While we work to deepen and broaden our cooperation in areas like economics, education, the environment, and health, we are also now working together on security issues, a relationship that would have been beyond our grasp just a few years ago. At President Barack Obama’s nuclear security summit last April, and again this June in Hanoi, senior U.S. officials have engaged with their Vietnamese counterparts on matters of nonproliferation, counterterrorism, humanitarian and disaster relief, and maritime security. Last year, the head of Vietnam’s Ministry of Public Security made his first-ever visit to Washington as part of the gradual expansion of contacts between our national security bureaucracies.

I have seen what this kind of dialogue can accomplish: Almost 20 years ago, I led efforts with Senator McCain to make a full accounting of U.S. Prisoners-of-War and persons Missing-in-Action (MIA), and to help American servicemen suffering from exposure to Agent Orange. Some called our search as an “unglamorous task that nobody else wanted.” But following 8 personal visits to Vietnam, a review of thousands of documents and photographs, hundreds of subpoenas, and testimony from family members, leaders of veterans’ groups, intelligence officials, and diplomats, our investigations gradually helped build trust and establish the habits of cooperation that would pave the way for normalization. In the process of providing answers to hundreds of waiting families in what became known as the most comprehensive, exhaustive search in the history of warfare, we were able to generate the consensus needed to ending the embargo and establishing diplomatic relations with Vietnam. Closer to home, our work helped the nation come to grips with unresolved issues that had lingered for two decades and to begin healing the wounds of war.

I am proud of these efforts, and am pleased that we continue to work together to address outstanding war issues, including beginning to explore ways to help Vietnam account for its own MIA, which by far exceeded our own. Today, the debate continues over the human impact of exposure to dioxin, a contaminant found in Agent Orange, and I know the U.S. government is working closely with its Vietnamese counterpart to address associated environmental and potential health concerns. Senator Sheldon Whitehouse and I are trying to do our part by seeking funds for the remediation of a contaminated area at the Danang International Airport once used by U.S. forces.

As Vietnam has transformed itself, the country is increasingly playing a significant role on global and regional issues, serving on the UN Security Council last year and, currently, as ASEAN’s chairman. For its part, the United States is reengaging with Southeast Asia under the leadership of President Obama, and views Vietnam as an important pillar in its cooperation with the region and institutions like ASEAN and the Asia-Pacific Economic Cooperation forum (APEC). As ASEAN chair, Vietnam has an opportunity to strengthen the organization’s role as a regional problem-solver on issues ranging from climate change to maritime security to regional hot spots like Burma and North Korea…

Forty years ago, hundreds of thousands of American servicemen and women were fighting in Vietnam. Last year, 350,000 Americans visited Vietnam as tourists and to do business. We have come a long way. The future of U.S.-Vietnam relations can and should be a bright one given our common interests. I look forward to working to ensure that the next 15 years will be even more successful than the last./.


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]




    Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 và Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 17
    Đại sứ Việt Nam tại Singapore Trần Hải Hậu: Năm ấn tượng của quan hệ song phương Đại sứ Việt Nam tại Bỉ Phạm Sanh Châu: Chuyển biến sâu sắc trong quan hệ Việt Nam-EU
    Đại sứ Việt Nam tại Australia Hoàng Vĩnh Thành: Quan hệ phát triển dù chính trường dậy sóng Tổng lãnh sự Việt Nam tại Fukuoka (Nhật Bản) Bùi Quốc Thành: Thế hệ trẻ là cầu nối Việt - Nhật
    Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng: Tích cực chuẩn bị cho Năm Việt Nam tại Pháp Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường: Một năm đặc biệt
    Một số hình ảnh tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28 Chủ tịch nước đến dự và phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28
    Nhận diện khó khăn mở rộng không gian phát triển Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Tân: Quan hệ tiếp tục đi vào chiều sâu
    Kỷ niệm 68 năm ngày thành lập ngành Ngoại giao
    Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Người học trò xuất sắc của Bác Hồ Vị Đại sứ đầu tiên tại nước XHCN đầu tiên
    Hoàng Minh Giám: Nhà ngoại giao nhân dân xuất sắc Kỷ niệm về ông Ung Văn Khiêm
    Anh Xuân: Trong ký ức một nữ nhà báo - thành viên đoàn 37 Đồng chí Nguyễn Duy Trinh như tôi biết
    Nguyễn Cơ Thạch: Kiến trúc sư của nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại Từ bức thư của Bác Hồ…
    Vượt đỉnh Trường Sơn làm việc lớn Thư Bộ trưởng Phạm Bình Minh gửi cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao
    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng hội đàm với Chủ tịch Thường trực Thượng viện Mỹ Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh chào xã giao Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển
    Các hoạt động của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh trong chuyến thăm chính thức Thụy Điển Bế mạc NSS 2014 - Thủ tướng lên đường thăm chính thức Cuba
    Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tiếp Đại sứ Nhật Bản Các tiếp xúc cấp cao của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại La Hay
    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Hà Lan dự Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân Nâng tầm quan hệ ngoại giao của nghị viện Việt Nam
    Chủ tịch nước thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản Thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Sâu rộng vì Hòa bình và Phồn vinh ở Châu Á
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ