Đại bộ phận người Việt (khoảng 98%) tập trung ở 21 nước thuộc các khu vực địa lý: Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương. Tại các khu vực như Nam Á và Tây Bắc Á, Trung Đông, châu Phi, Nam Mỹ, tuy có người Việt làm ăn sinh sống, song số lượng không đáng kể.
Khoảng 80% người Việt đang làm ăn, sinh sống ở các nước công nghiệp phát triển, cụ thể: ở Mỹ có khoảng 2,2 triệu người, ở Pháp và Australia - mỗi nước khoảng 300 nghìn người, ở Canada khoảng 250 nghìn người. Ngoài ra, ở Đài Loan (Trung Quốc) hơn 200 nghìn người, ở Campuchia có 156 nghìn người, ở Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc - mỗi nước trên dưới 100 nghìn người; Nga, Czech, mỗi nước trên 60 nghìn người; Anh, Nhật Bản - mỗi nước trên 40 nghìn người; Lào có khoảng 30 nghìn người; Ba Lan có khoảng 20 nghìn người; Na Uy và Hà Lan - mỗi nước có khoảng 19 nghìn người; Bỉ, Thụy Điển, Đan Mạch - mỗi nước có khoảng 14 nghìn người.
Cùng với quá trình hội nhập và giao lưu văn hoá, vài năm gần đây, cơ cấu cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có những chuyển động và phát triển mới. Số người Việt Nam xuất cảnh theo các hình thức định cư, đoàn tụ gia đình, đi học, con nuôi, làm ăn, kinh doanh, lao động xuất khẩu theo hợp đồng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoặc theo hiệp định hợp tác lao động giữa Việt Nam với các nước tăng đáng kể, trong đó, chiếm phần đông là số người đi lao động, phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài và sinh viên đi du học.
Người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm năng không nhỏ đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, đặc biệt là tiềm năng tri thức và kinh tế. Về tiềm năng tri thức, trong gần 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài có gần 400 nghìn chuyên gia, trí thức (chiếm tỷ lệ khoảng 10%), là những người có trình độ từ đại học trở lên và các chuyên gia có kỹ thuật, tay nghề cao. Số chuyên gia trí thức tập trung chủ yếu ở các nước phương Tây: 150 nghìn người tại Mỹ, 40 nghìn người tại Pháp, 20 nghìn người tại Canada, 4 nghìn người tại Đông Âu và Nga, 7 nghìn người tại Australia... Phần lớn trí thức người Việt hoạt động trong các ngành khoa học và công nghệ cao từ điện tử, sinh học, vật liệu mới, năng lượng mới, tin học, công nghệ nano đến hàng không, vũ trụ, hải dương học.
Trí thức kiều bào có khả năng tư vấn trong hoạch định chính sách phát triển đất nước; trực tiếp tham gia hoặc hỗ trợ và làm cầu nối cho các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; tham gia các hoạt động giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Trí thức kiều bào cũng có nhiều ý kiến đóng góp rất có giá trị về các vấn đề kinh tế vĩ mô và phát triển, đường sắt cao tốc, điện hạt nhân, bô-xít, phát triển nguồn nhân lực, các vấn đề kinh tế xã hội...
Hằng năm, có hơn 300 lượt trí thức kiều bào về nước đóng góp chuyên môn và tham gia các chương trình hợp tác nghiên cứu và triển khai (R&D) khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, phần lớn theo hình thức công tác ngắn ngày. Họ được đánh giá là đội ngũ chuyên gia có trình độ cao, có kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu, quản lý trong nhiều lĩnh vực, đồng thời tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, từ thiện. Phần lớn các trí thức kiều bào đều tự nguyện về nước hợp tác, làm việc và tự chi trả mọi chi phí.
Về tiềm năng kinh tế, doanh nghiệp, doanh nhân kiều bào đóng vai trò làm cầu nối, mở đường cho hàng hoá, doanh nghiệp trong nước vươn ra thế giới. Hằng năm, số người về nước tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh tăng đáng kể. Bên cạnh đó, lượng kiều hối cũng là một trong những nguồn vốn không nhỏ đóng góp về trong nước... Kiều hối gửi về nước tăng trung bình từ 10-15%/năm, từ mức 3 tỷ USD năm 2004 đã tăng lên con số kỷ lục là trên 8 tỷ USD năm 2010. Tổng số dự án đầu tư về nước cho đến nay ước tính khoảng 3.400 doanh nghiệp, với tổng số vốn đầu tư khoảng 6 tỷ USD. Một số doanh nghiệp lớn của kiều bào đã phát triển thành công, vươn lên thành những doanh nghiệp có thương hiệu hàng đầu Việt Nam như Vingroup, Euro Windows...
Theo Học viện Ngoại giao