Khuôn khổ hay không?
Riêng thế kỷ 20 đã có tới 6 làn sóng M&A trên thế giới, với hàng chục thương vụ có giá trị tới hàng trăm tỷ USD trong nhiều lĩnh vực quan trọng. Những giá trị tạo ra từ M&A đã được minh chứng rất rõ ràng. Không thế mà, số thương vụ M&A ở Việt Nam liên tục tăng trong 4 năm trở lại đây, tính riêng 2007 và 2008, cũng đã có trên 130 vụ sáp nhập, với giá trị giao dịch lên tới hơn 2 tỷ USD.
Hiện tại, nền kinh tế đang có những dấu hiệu khả quan, hội nhập kinh tế tạo xu thế hình thành các doanh nghiệp lớn, và M&A gần như chắc chắn sẽ phát triển trong thời gian tới, nhất là khi đại đa số doanh nghiệp Việt Nam mới có quy mô nhỏ và vừa. Người ta dự đoán rằng, 5 đến 10 năm nữa, khoảng 30-50% doanh nghiệp tại Việt Nam sáp nhập hoặc bị sáp nhập với đối tác khác.
Tuy nhiên, cho đến nay, hiệu quả của các thương vụ mua bán trên đến đâu thì vẫn còn là một ẩn số. Theo một số chuyên gia, hoạt động M&A tại Việt Nam chưa phát triển và mang lại hiệu quả như mong muốn, bởi hệ thống pháp luật của chúng ta còn thiếu và nhiều bất cập. Từ góc độ quản lý nhà nước, trong một cuộc hội thảo về M&A, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Bích Đạt bày tỏ lo ngại: “Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của M&A - bên cạnh những tác động tích cực tới nền kinh tế - cũng tiềm ẩn những nguy cơ về thâu tóm thị trường và cạnh tranh không lành mạnh”.
Trong khi, nhiều người cho rằng các thủ tục của M&A quá rườm rà, phức tạp, ngay cả trong Luật Cạnh tranh cũng không định nghĩa rõ ràng về hoạt động mua lại, vì vậy, nên sớm có một bộ luật hoàn chỉnh và hướng dẫn cụ thể. Một số ý kiến khác lại cho rằng, không cần phải có thêm một bộ luật hay một văn bản nào riêng cho M&A, vì thực tế là hoạt động M&A đã được quy định ở trong rất nhiều luật như: Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán… Do đó, cơ quan nhà nước không cần phải quan tâm quá mức, vì bản chất của M&A là tự do khế ước, các bên tự tìm thông tin, tự mặc cả giá thành, tự lo lấy thương vụ.
Tư vấn luật là thượng sách
Trong lúc khung khổ pháp lý về M&A chưa đầy đủ và chặt chẽ, tất yếu tỷ lệ rủi ro được đánh giá khá cao. Vì vậy, tư tưởng lâu nay coi tư vấn pháp luật như một vị “bác sĩ”, chỉ đến khi có bệnh cần phải xem xét lại. Thái độ này tương phản với thực tế với các các doanh nghiệp ở các nước phát triển, họ có thói quen thường xuyên sử dụng tư vấn pháp luật, vì điều này đem lại nhiều lợi ích thực tế cho họ. Đây cũng là lý do tồn tại của các hãng luật trên thế giới.
Chưa nói đến những bất cập mà một khung pháp lý mới định hình có thể mắc phải, những khó khăn của doanh nghiệp cũng hoàn toàn có thể được giải quyết nhờ vai trò của tư vấn pháp luật và các luật sư. Tư vấn pháp luật cung cấp thông tin pháp luật, giải thích pháp luật cho doanh nghiệp và định hướng hành vi của doanh nghiệp trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã dự liệu trước. Đây là khả năng của luật sư nhìn thấy sự khác biệt giữa pháp luật với đời sống kinh tế - xã hội và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó, luật sư đưa ra những lời khuyên pháp luật nhằm đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích vượt chi phí tư vấn pháp luật, phòng ngừa những tranh chấp và rủi ro pháp lý khác trong quá trình kinh doanh của họ.
Lợi ích lâu dài và quan trọng nhất của tư vấn pháp luật đối với doanh nghiệp là thông qua tư vấn pháp luật, doanh nghiệp tìm đến luật sư không phải chỉ để tìm giải pháp cho một vấn đề pháp luật riêng biệt của doanh nghiệp, mà còn để có được những kiến thức pháp luật và những kỹ năng giải quyết các vấn đề pháp luật.
Dẫn dắt doanh nghiệp đi trong hành lang pháp lý an toàn là vai trò của tư vấn pháp luật và luật sư. Đây là quan hệ lợi ích hai chiều mà cả doanh nghiệp và luật sư đều hướng tới.
Cúc Nhi