Cung giảm, cầu tăng
Theo dự báo của Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO), trong giai đoạn 2009-2010, nhập khẩu chè đen thế giới ước tính khoảng 1,15 triệu tấn, mức tăng trung bình khoảng 0,6%/năm. Các nước nhập khẩu chính như Anh, Nga, Pakistan, Mỹ, Nhật Bản... sẽ chiếm khoảng 60% tổng lượng nhập khẩu chè toàn thế giới vào năm 2010. Cụ thể, Pakistan tăng 2,9%/năm, từ 109.400 tấn lên 150.000 tấn; Nhật cũng tăng từ 18.000 lên 22.000 tấn, tăng 1,8%/năm.
Tại Mỹ, dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm, nhưng nhu cầu tiêu thụ chè tăng mạnh. Người tiêu dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây, nước ngọt... thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình.
Tại châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay những tháng đầu năm 2009, tại các thị trường này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt. Trong đó, mức tiêu thụ trung bình của một người Nga lớn nhất thế giới, lên tới hơn 1kg/người/năm. Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Iraq nhu cầu tiêu dùng chè cũng tăng.
Giá chè trong năm 2009-2010 cũng được dự báo là sẽ tăng nhẹ, đạt mức 4.008 USD/tấn, tăng gần 1,5% so với năm 2008, một mặt do cầu tăng, mặt khác nguồn cung trên thế giới giảm nhẹ do ảnh hưởng của thời tiết. Tại Kenya và Sri Lanka, hai nước xuất khẩu chè đen lớn nhất thế giới, những tháng đầu năm 2009 đang phải đối mặt với thời tiết khô hạn kéo dài, làm sản lượng chè giảm mạnh tới 50%.
Cơ hội của chè Việt
Theo báo cáo quý I/2009 ngành hàng chè Việt Nam của Trung tâm Thông tin, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (AGROINFO), xuất khẩu chè của Việt Nam trong năm 2008 và quý I/2009 đều tăng về giá trị so với năm 2007. Việt Nam đã xuất khẩu chè đến hơn 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thương hiệu "CheViet" đã được đăng ký bảo hộ tại 70 thị trường, với các thị trường lớn là Pakistan, Đài Loan, Nga, các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất và Trung Quốc.
Năm 2008, hầu hết các nước trong danh sách 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam đều là những bạn hàng lớn và truyền thống trong các năm trước đây, với tổng kim ngạch đạt 111,9 triệu USD, chiếm gần 78,85% tổng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam năm 2008. So với 2007, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này tăng trung bình 43,69%. Pakistan hiện là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, chiếm 39% tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam. Các thị trường nhập khẩu nhiều chè tiếp theo là Nga (chiếm 19%), Đài Loan (chiếm 16%)... Khu vực Trung Đông đang được đánh giá là có tiềm năng lớn cho chè xuất khẩu của Việt Nam.
Theo dự báo của AGROINFO, năm 2009 diện tích trồng chè dự kiến đạt 131.500 ha, tăng 1.900 ha so với năm 2007. Năng suất trồng chè năm 2009 dự kiến tăng so với mức 5,9 tấn/ha của năm 2007. Tuy nhiên, do yêu cầu thực tế từ khách hàng là thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng chất lượng hàng tốt nên sản lượng chè chưa chế biến của cả nước năm 2009 dự kiến ở mức 747.000 tấn, giảm 1,68% so với năm 2007. Như vậy, sản lượng chè khô trong năm 2009 ước đạt 159.000 tấn, giảm 1.000 tấn so với năm 2008.
Đối với giá chè trong nước và xuất khẩu của Việt Nam, AGROINFO dự báo cũng cùng chung xu hướng với giá chè thế giới. Theo đó, giá chè trong nước của Việt Nam trong năm 2009 sẽ ở mức 5.062 đồng/kg, tăng 1,6% so với mức 4.982 đồng/kg của năm 2008. Giá chè xuất khẩu cũng sẽ đạt mức 1.581 USD/tấn, tăng 3,2% so với giá chè xuất khẩu trung bình năm 2008.
Phan Nguyễn