Kinh tế Thứ Tư, 18/07/2012-2:29 PM
Đồng bằng sông Cửu Long: Những ứng phó cần cho phát triển
Ảnh minh họa
Nằm ở hạ lưu, lại bao gồm cả vùng châu thổ, nên đồng bằng sông Hồng và Cửu Long chịu tác động mạnh mẽ của dòng chảy thượng lưu, mà đáng lưu ý là tác động lên dòng chảy đỉnh lũ và dòng chảy kiệt nhất. Sự thay đổi dòng chảy thượng lưu, dù với bất kỳ mức độ nào, cũng đều tác động đến hạ lưu. Trong điều kiện hiện nay và tương lai, sự thay đổi đó chủ yếu phát sinh từ hai nguyên nhân chính là (a) tác động của biến đổi khí hậu và (b) gia tăng sử dụng nước cho phát triển ở thượng lưu.

Cần đảm bảo “an ninh dòng chảy kiệt”

Hãy xem xét từng nguyên nhân. Trước hết, thay đổi dòng chảy thượng lưu do biến đổi khí hậu tập trung chính bởi yếu tố mưa. Sự thay đổi mưa theo chiều hướng tăng mưa vào giữa và cuối mùa mưa, giảm mưa trong suốt mùa khô và đầu mùa mưa, cùng với tăng cường độ mưa ngày, mưa trận, khiến lũ ngày càng lớn hơn và kiệt ngày càng giảm đi, nghĩa là tăng dần về hai cực trị. Còn nguyên nhân tiếp theo, thay đổi do gia tăng sử dụng nước ở thượng lưu chủ yếu bởi các phát triển liên quan đến sử dụng và tác động lên nguồn nước, như sản xuất nông nghiệp, công nghiệp (đặc biệt công nghiệp giấy, khai khoáng…), cấp nước dân sinh, chặt phá rừng, chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất… và quan trọng nhất là phát triển thủy điện và chuyển nước lưu vực. Các hoạt động này có tác động trực tiếp lên cả dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt, đặc biệt làm giảm nhỏ dòng chảy kiệt xuống hạ lưu.

Nếu như (a) thay đổi từ từ, có thể từng bước đề xuất những giải pháp thích ứng và giảm thiểu khá hiệu quả, thì (b) sẽ gây nên những tác động lớn và tức thì (ngay sau khi công trình hoạt động), đặc biệt tác động lên chính đỉnh lũ cao nhất và dòng chảy kiệt nhất. Ngoài ra, nếu như (a) ít làm thay đổi chất lượng nước, thì (b) có thể gây nên những tác động xuyên biên giới khó lường hết được (mà thực tế có lúc, có nơi đã xảy ra), khiến nguồn nước không những càng ít đi mà còn khó sử dụng hơn.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), một đồng bằng đang phát triển rất cần lũ và nhất là cần duy trì một dòng chảy kiệt đủ để đảm bảo ổn định các mặt sản xuất, đời sống và môi trường, thì biến đổi khí hậu và phát triển thượng lưu là nguy cơ cao nhất dẫn đến làm tăng dòng chảy lũ những năm lũ lớn (do xả thủy điện), giảm dòng chảy lũ những năm lũ trung bình và nhỏ (thậm chí không còn lũ) do tích nước, và làm giảm dòng chảy kiệt do chậm xả, dẫn đến không đủ khả năng đẩy mặn, nhất là khi mặn kết hợp với nước biển dâng. Như vậy, ĐBSCL sẽ phải đối mặt với sự bất thường lớn hơn của lũ, của dòng chảy mùa kiệt ngày càng nhỏ, của mặn xâm nhập sâu hơn, nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm và kể cả chất lượng nước ngày càng suy giảm. Vì thế, chiến lược quan trọng nhất của ĐBSCL trong tương lai sẽ là “đảm bảo an ninh dòng chảy kiệt”.

Cảnh giác cao với hạn, mặn

Vụ Xuân-Hè và Hè-Thu ven biển của nhân dân ĐBSCL thường bị ảnh hưởng trực tiếp nhất do mặn xâm nhập sâu vào các tháng 3 đến tháng 5. Hiện nay, vào những năm cạn kiệt, mặn lên cao (như các năm 2004, 2008, 2010), để ứng phó với nước mặn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cùng các địa phương thường xuyên có kế hoạch ứng phó vào đầu mỗi mùa khô. Khi hạn, mặn xảy ra, các địa phương thực hiện các biện pháp ứng phó kịp thời, như giảm diện tích gieo trồng, bổ sung nguồn vốn nạo vét kênh mương nhằm tăng khả năng cấp nước ngọt, sửa chữa đê, cống ngăn mặn… nỗ lực giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất. Tuy nhiên, do nguồn vốn có hạn, chưa có các giải pháp tổng thể, nên có năm thiệt hại do mặn xâm nhập cũng còn khá lớn.

Trong tương lai, ứng với các kịch bản giảm dòng chảy thượng lưu và nước biển dâng, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam tiến hành lập Quy hoạch thủy lợi tổng hợp vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng. Quy hoạch được thực hiện trong thời gian hơn 2 năm, từ 9/2009-2/2012 và đang được trình Chính phủ phê duyệt. Theo đó, để ứng phó hiệu quả với nước biển dâng và xâm nhập mặn, cần xem xét bổ sung một số công trình theo đề nghị của các địa phương, xây dựng và củng cố tuyến đê biển và công trình dưới đê sẽ được thực hiện, một số kênh trục cấp nước và cống kiểm soát mặn đầu kênh cũng được triển khai từ nay đến 2020/2030. Đặc biệt, sau 2030 sẽ xem xét các cống lớn tại các cửa sông gồm Vàm Cỏ, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu, nhằm hình thành một trục cấp nước ngọt tầm cỡ và ổn định ngay giữa vùng ĐBSCL.

Trong các kế hoạch 2011-2015 và 2016-2020, do nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, Bộ NN&PTNT trình Chính phủ chủ trương tập trung hoàn chỉnh các hệ thống công trình then chốt, mang lại hiệu quả cao, như Bắc Bến Tre, Cái Lớn-Cái Bé, Tứ giác Long Xuyên…

Nguyễn Ngọc Anh
Kỹ sư cao cấp, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]




    Đầu tư vào giáo dục là chính sách thương mại tốt nhất Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo vì tương lai châu Á
    Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển Diễn đàn kinh tế mùa xuân – Động lực phát triển mới từ cải cách thể chế
    Các chuyên gia đánh giá cao sự phát triển kinh tế Việt Nam “Mầm xanh mới nhú” trong nền kinh tế
    Ngoại giao kinh tế đi vào thực chất EU tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN
    Đánh thức Vân Đồn Kinh doanh xanh – chủ đề mới của các thương hiệu mạnh
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ