Nỗi ám ảnh Việt Nam
Từng nắm giữ nhiều vị trí quan trọng, nhưng giai đoạn đáng chú ý nhất trong cuộc đời của Robert McNamara là thời kỳ làm Bộ trưởng Quốc Phòng (1961-1968). McNamara được đánh giá là “Bộ trưởng Quốc phòng có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20”, trong một thời kỳ nhiều biến động của Mỹ và thế giới với các sự kiện như Vịnh Con lợn, khủng hoảng tên lửa Mỹ - Liên Xô, đặc biệt là cuộc chiến tranh tại Việt Nam mà sau này được nhiều người gọi là “cuộc chiến của McNamara”.
Thời McNamara làm Bộ trưởng Quốc phòng, số lượng quân Mỹ tại Việt Nam đã tăng từ 400 lên 17.000 năm 1964. Từ năm 1965, Mỹ bắt đầu ném bom miền bắc Việt Nam, đồng thời triển khai lực lượng quân sự lớn và tham gia vào chiến sự ở miền Nam. Kế hoạch chiến tranh của McNamara tăng số quân Mỹ tại Việt Nam lên 485.000 vào cuối năm 1967 và tăng lên gần 535.000 tính tới ngày 30/6/1968.
Tới năm 1967, McNamara bắt đầu công khai bày tỏ nghi ngờ khả năng giành thắng lợi của Mỹ tại Việt Nam và đề nghị Tổng thống Johnson ngừng ném bom miền Bắc và hạn chế gửi thêm quân tới Việt Nam. Thậm chí, tháng 5 năm đó, ông đệ trình văn bản đề nghị Johnson đàm phán hòa bình và chấm dứt cuộc chiến. Đây cũng là một trong những sự kiện được cho là nguyên nhân khiến ông phải ra đi và chuyển sang WB. Năm 1995, khi ông phát hành cuốn hồi ký Thảm họa và những bài học từ Việt Nam, những người phản chiến đã chỉ trích ông rất nhiều. Họ cho rằng, nếu ông công khai lý do phải “từ chức”, có lẽ Tổng thống Johnson đã phải chịu áp lực dừng cuộc chiến và cứu sống được hàng chục nghìn binh sĩ sau đó.
Tại bữa tiệc chia tay khi từ chức Bộ trưởng Quốc phòng do Ngoại trưởng Dean Rusk tổ chức, ông đã ứa nước mắt khi nói về tính vô nghĩa của cuộc chiến tại Việt Nam. Rất lâu trước đó ông đã nghĩ rằng Mỹ không thể thắng trận. Còn khi về hưu, ông liệt kê được nhiều lý do: thất bại vì không hiểu kẻ thù, không nhìn thấy giới hạn của vũ khí công nghệ cao, thất bại vì không nói sự thật với người Mỹ và đánh giá sai sự ủng hộ của dân chúng dành cho Mặt trận giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ông đã từng nói, chiến tranh hạt nhân là sự vô nghĩa. “Vũ khí hạt nhân hoàn toàn vô dụng, ngoại trừ việc ngăn chặn được đối phương sử dụng chúng”. Trong cuốn phim tài liệu 11 bài học từ cuộc đời của Robert McNamara công chiếu năm 2003, ông nói về vụ ném bom nguyên tử của Mỹ tại Nhật Bản trong Thế chiến II. Ông kể, tướng Curits E.LeMay đã nói rằng “Nếu chúng ta thua trận, chúng ta sẽ bị truy tố như những tội phạm chiến tranh”. “Và tôi đã nghĩ rằng ông ấy nói đúng. Ông ấy, và cả tôi nữa, đã đều hành xử như những tội phạm chiến tranh”.
Ông cũng từng kể, ký ức đầu tiên của ông là về San Francisco - nơi ông sinh ra, đó là “một thành phố tràn ngập niềm vui” - vào thời điểm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất (11/11/1918, lúc đó ông hơn 2 tuổi), với những chiếc ôtô chở những người reo hò và ôm hôn nhau.
Nhưng cuộc đời của McNamara đã gắn với những ám ảnh về chiến tranh, về tính đạo đức của các cuộc chiến, cũng như việc sử dụng sức mạnh của Mỹ. Khi xảy ra cuộc chiến Iraq năm 2003, ông từng bày tỏ: “Tôi không tin rằng chúng ta nên áp dụng sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự một cách đơn phương. Nếu chúng ta theo nguyên tắc này ở Việt Nam, chúng ta đã đến đó. Không có đồng minh nào ủng hộ chúng ta. Chiến tranh quá phức tạp, vượt qua khả năng hiểu biết của con người. Đánh giá của chúng ta, hiểu biết của chúng ta là không tương xứng. Và chúng ta giết hại người dân một cách không cần thiết”.
Nhân vật của những con số
Khi McNamara đến Lầu Năm góc, tháng 1/1961, để trở thành Bộ trưởng Quốc phòng thứ 8 của nước Mỹ, ông mới 44 tuổi, và 10 tuần trước đó được bổ nhiệm làm Chủ tịch Công ty Ford Motor. Tổng thống Kenedy gọi ông là nguời “thông minh nhất” mà ông từng gặp. Vẻ nghiêm nghị và đứng đắn với cặp kính và mái tóc được chải rất chỉn chu, ông được chú ý bởi sự thành thạo trong việc phân tích hệ thống, các con số, các công tác tổ chức, cũng như phương pháp tìm sự đơn giản trong sự phức tạp nhất.
Khi ông về nhận nhiệm vụ tại Lầu Năm góc, ông gọi đó là một “khu rừng” và nỗ lực “khai hoang” cơ quan này. Kết quả là Lầu Năm góc tiêu tốn đến gần một nửa ngân sách quốc gia dưới thời ông quản lý, từ 48,2 tỉ USD năm 1962, lên con số kỷ lục 74,9 tỉ năm 1968, (tương đương 457 tỉ USD ngày nay). Ông đã được giao nhiệm vụ nghiên cứu cán cân sức mạnh hạt nhân Mỹ - Liên Xô, thảo kế hoạch chiến tranh hạt nhân, cũng như các kế hoạch xâm lược, phá hoại và lật đổ chính quyền Cuba. Ông là nhân vật chủ chốt trong cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.
Tuy nhiên, những diễn biến của chiến tranh Việt Nam đã buộc ông phải rời nhiệm sở vào năm 1968 để đảm nhận vị trí Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB). Ở cương vị này, người đàn ông của những con số đã tăng hạn mức cho vay của WB từ 1 tỉ USD/năm, lên gần 12 tỉ USD/năm (năm 1981), nhưng hiệu quả xóa đói giảm nghèo của các khoản vay thì ngược lại, khi số người nghèo đói tăng từ 600 triệu lên 800 triệu người!
Kim Chung
|
Tóm tắt tiểu sử McNamara
Sinh ngày 9/6/1916 tại San Francisco. 1937: Đỗ bằng Kinh tế và Triết học tại ĐH California ở Berkeley, đỗ thạc sĩ Quản lý kinh doanh tại ĐH Havard. 1940-1943: Phó giáo sư tại ĐH Havard. 1943-1946: Gia nhập quân đội, lên đến hàm trung tá. 1960: Được bầu làm Chủ tịch Công ty Ford Motor. 1961-1968: Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống John F.Kennedy và sau đó là Lyndon B.Johnson 1968-1981: Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB). Kết hôn với Margaret Craig năm 1940. Bà mất năm 1981. Năm 2004 ông lấy Diana Masieri Byfield. Ông có một con trai, hai con gái và 6 người cháu.
Cha đẻ của Ford Falcon
Ngoài sự nghiệp chính trị, Robert McNamara còn được biết đến là cha đẻ của loại xe Ford Falcon khi còn đảm nhận vị trí điều hành quan trọng tại công ty Ford Motor. Năm 1957, khi Ford ra dòng xe Edsel cỡ vừa bất chấp sự suy thoái. Edsel đã thua lỗ trong khi các dòng xe nhỏ hơn như Volkswagen Beetle và Rambler bán rất chạy. Ông cho rằng một người phụ nữ nội trợ làm các việc lặt vặt sẽ không cần đến một chiếc xe nặng đến 1.800kg. Với chiếc xe nhỏ hơn, người lái có thể tiết kiệm nhiều nguyên liệu. Kết quả là Falcon ra đời, gọn, nhẹ hơn Edsel, giúp Forrd tiêu thụ được 417.174 chiếc trong năm đầu tiên, chiếm ¼ doanh thu của Ford.
Khi vào Lầu Năm góc, ông cũng áp dụng cách phân tích chi phí tương tự với vũ khí, tự hỏi tại sao không kết hợp một máy bay chiến đấu của không quân với máy bay chiến đấu cho hải quân? Hoặc sao không kết hợp máy bay chiến đấu với máy bay ném bom để tiết kiệm nhiều hơn? Ý tưởng này cuối cùng đã trở thành chương trình TFX đầy tranh cãi (thử nghiệm máy bay chiến đấu chiến lược). Kết quả là chiếc F-111, mà phi công gọi là Aardvark, ra đời. Sau khi ông rời Lầu Năm góc, những người ủng hộ máy bay chiến đấu phát triển một mô hình khác, đó là chiếc F-16. Thật trùng hợp, nó có tên gọi là Fighting Falcon. |