Đây vốn là chiếc ghế mà Đảng Dân chủ giữ vững từ năm 1953. Và không thể không lo ngại, vì sự kiện là chuỗi tiếp nối sau hai lần thua cuộc của đảng này trong các cuộc bầu cử thống đốc tại các bang New Jersey và Virginia, những nơi vẫn được xem là thành trì ủng hộ ông Obama trong cuộc bầu cử năm 2008.
Tỉ lệ ủng hộ ông Obama đã giảm nhanh hơn bất kỳ tổng thống nào thời hậu chiến, ngoại trừ Gerald Ford. Những người có quan điểm độc lập đang chạy xa khỏi ông càng nhanh càng tốt. Ở Massachusetts, cứ 3 người thì 1 bỏ phiếu cho đảng Cộng hòa. Ảnh hưởng của cá nhân ông tại đó không có hiệu lực, cũng như hiệu quả của các sáng kiến mà ông đã mang tới Hội nghị khí hậu Copenhagen tháng 12 năm ngoái. Chương trình hành động của ông đã bị ngáng đường. Vậy ông phải làm như thế nào?
Phán đoán sai lầm đã qua thường dễ hơn việc chỉ ra cách làm thế nào để sửa chữa sai lầm đó. Bởi mối quan tâm của các cử tri là không giống nhau. Rõ ràng các đề xuất cải cách y tế của ông Obama là một vấn đề. Hầu hết cử tri đang hài lòng với tình trạng sức khỏe của mình, và họ không muốn trả thêm thuế hay thấy lợi nhuận của họ bị thu hẹp vì lý do hỗ trợ số ít những người kém may mắn. Một vấn đề khác lớn hơn là thâm hụt ngân sách chính phủ đang trầm trọng và một kế hoạch cải cách y tế tốn kém chỉ làm nó tồi tệ hơn. Ngoài ra, một chủ đề quan trọng cũng nằm trong bản thông điệp hàng năm của ông Obama là việc làm. Mặc dù nền kinh tế Mỹ về mặt kỹ thuật đã thoát khỏi suy thoái, nhưng đa số cử tri không nghĩ như vậy. Thất nghiệp vẫn đứng ở mức gần 10%. Kèm theo đó là tâm lý lo sợ sự hồi phục của nền kinh tế sẽ còn lâu dài và chậm chạp. Thách thức lớn nhất mà ông Obama đối mặt là phải giải thích được cách giải quyết các vấn đề này mà không làm tăng mức thâm hụt hiện có.
Rõ ràng, thời khắc ngắn ngủi mà những nhà Dân chủ thấy rằng họ có thể làm những gì mình muốn, khi nắm được cả Nhà Trắng đồng thời chiếm đa số tại cả Thượng viện và Hạ viện, đã hết. Một khi ông Scott Brow chính thức ngồi tại Thượng viện, ông Obama sẽ mất đi đa số cần thiết. Đạt được thỏa thuận với phe Cộng hòa với ông không những là điều nên làm, mà còn là một sự xa xỉ. Mặc dù vậy, đây chưa phải là một thảm họa, vì hầu hết tổng thống Mỹ đều phải cầm quyền với số ghế ủng hộ ở Thượng viện ít hơn nhiều so với số ghế ủng hộ hiện giờ ông Obama đang có ở Thượng viện.
Tổng thống Obama phải hiểu rằng ông đang ở thế yếu: Ông cần những nhà Cộng hòa nhiều hơn họ cần ông. Để đạt được điều mình muốn, ông phải học cách nhượng bộ họ nhiều hơn. Ví dụ, ông có thể đề nghị phe Cộng hòa kiểm soát chi phí để thúc đẩy dự luật y tế với quy mô giảm hơn trước, và đó là điều mà họ khó có thể từ chối. Tương tự, bất kỳ hy vọng nào vào sự thông qua dự luật biến đổi khí hậu sẽ phải liên quan đến việc tăng cường sức mạnh hạt nhân cho nước Mỹ.
Cựu Tổng thống Bill Clinton đã từng hiểu thấu tất cả vấn đề này sau thảm họa năm 1994, khi phe Cộng hòa chiếm lại đa số tại Quốc hội. Kết quả là ông đã đạt được một loạt dự luật tốt đẹp, từ cải cách phúc lợi tới thỏa thuận tự do thương mại và giảm thâm hụt. Ông Clinton đã dễ dàng tái đắc cử và nhiệm kỳ tổng thống của ông dù có những rắc rối liên quan đến bản thân ông, cũng được xem là thành công. Tổng thống Obama, trước những khó khăn tương tự, cũng nên học hỏi từ những kinh nghiệm này.
Phương Nguyên(Theo Economist)