Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc Thứ Năm, 20/12/2012-1:06 PM
Từ thù địch đến Đối tác chiến lược
Đã 20 năm Việt Nam và Hàn Quốc kiến lập quan hệ ngoại giao. Trước chắc không ai có thể hình dung quan hệ giữa hai nước lại nở rộ như ngày nay. Nhân hai nước kỷ niệm ngày đáng nhớ này, tôi muốn chia sẻ một số hồi ức về sự kiện này và mối quan hệ trong những năm tiếp theo với tư cách là người được giao nhiệm vụ thiết lập quan hệ với Hàn Quốc và sau đó làm Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Ủy ban hỗn hợp Việt – Hàn về hợp tác kinh tế, văn hóa.

Trước hết, tôi muốn nói về sự khởi nguồn. Vào đầu những năm 90 thế kỷ trước, tôi là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam và một trong những nhiệm vụ được phân công là phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vào thời điểm đó, Việt Nam bắt đầu triển khai công cuộc Đổi mới và mở cửa, chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới với trọng tâm là khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Hàn Quốc. Đúng lúc ấy, qua Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok, phía Hàn Quốc cũng bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ với Việt Nam và mời đoàn Việt Nam sang Seoul dự phiên họp của ESCAP. Tôi được cử làm Trưởng đoàn để nhân dịp đó thăm dò khả năng kiến lập quan hệ giữa hai nước.

Trong thời gian ở Seoul, tôi đã có dịp tiếp xúc trực tiếp với các quan chức Hàn Quốc để trao đổi ý kiến, song tiếc rằng hai bên chưa đi tới được sự nhất trí về mức độ quan hệ: Phía Việt Nam lúc đó chủ trương tiến từng bước, trước hết lập quan hệ lãnh sự, còn phía Hàn Quốc lại muốn tiến thẳng đến quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ. Hai nước vẫn chưa đạt được sự thỏa thuận về việc lập quan hệ ngoại giao còn do vướng mắc vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh nên mới chỉ thỏa thuận lập Văn phòng liên lạc. Tới cuối năm 1992, hai bên mới nhất trí về việc kiến lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ với nhận thức rằng, phía Hàn Quốc sẽ giải quyết những hậu quả chiến tranh thông qua việc gia tăng đầu tư và dành ODA cho Việt Nam.

Quá trình kiến lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước trải qua những khó khăn, khúc mắc cũng là điều dễ hiểu vì di chứng của chiến tranh khá nặng nề và quán tính của “Chiến tranh lạnh” không dễ gì khắc phục. Mặt khác, quá trình đó cũng cho thấy những trắc trở cho dù rất phức tạp đi nữa vẫn có thể vượt qua được nếu lợi ích của hai bên gặp nhau.

Sau khi hai nước kiến lập quan hệ ngoại giao, tôi được cử làm Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Hàn Quốc về hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật nên đã được trực tiếp chứng kiến sự phát triển quan hệ mọi mặt giữa hai nước diễn ra thế nào. Nói một cách hình ảnh thì đó là dòng chảy liên tục từ con suối nhỏ, ra sông lớn rồi ra biển khơi!

Thật lòng mà nói, cá nhân tôi cũng không ngờ là quan hệ Việt – Hàn lại phát triển một cách bùng nổ đến như vậy!

Chỉ trong vòng hai mươi năm mà quan hệ thương mại hai chiều đã tăng lên 26 lần, từ 500 triệu lên 12,9 tỷ USD. Hàn Quốc trở thành bạn hàng lớn thứ 4 của Việt Nam và Việt Nam trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 9 của Hàn Quốc. Về đầu tư trực tiếp, nay Hàn Quốc đứng hàng đầu với trên 3.000 dự án của 2.500 công ty với trên 23,5 tỷ USD vốn đăng ký, sử dụng 400.000 lao động Việt Nam. Về viện trợ phát triển, Hàn Quốc đứng thứ hai trong số các nhà tài trợ song phương cho Việt Nam và Việt Nam là nước tiếp nhận viện trợ lớn nhất của Hàn Quốc với 34 dự án trị giá khoảng 1,2 tỷ USD. Hàn Quốc còn là thị trường xuất khẩu lao động lớn thứ ba của Việt Nam, đã tiếp nhận tới 65.000 lao động từ phía Việt Nam. Bên cạnh sự phát triển vượt bậc của sự hợp tác trên những lĩnh vực vật chất, mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác cũng mang tính bùng nổ.

Nhân tố có tính quyết định đối với toàn bộ sự hợp tác Việt – Hàn là sự phát triển của mối quan hệ chính trị chuyển từ sự thù địch, nghi ngại sang hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia, tiếp đó được nâng lên thành “quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỷ XXI” (2001) rồi “đối tác hợp tác chiến lược” (2009). Trên cơ sở đó đã hình thành truyền thống tiếp xúc cấp cao thường xuyên, đối thoại chiến lược ngoại giao – an ninh – quốc phòng thường niên; Mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan quốc phòng, an ninh, giữa nhiều địa phương được thiết lập và không ngừng gia tăng… Hai nước không chỉ hợp tác chặt chẽ với nhau trên bình diện song phương mà sự hợp tác trên bình diện đa phương cũng ngày càng đa dạng và sôi động.

Một nét khá đặc biệt trong quan hệ Việt – Hàn là sự giao thoa văn hóa, sự giao lưu của người dân hai nước. Ngoài sự giao lưu, tiếp xúc thông qua sự trao đổi các đoàn, các nhà doanh nghiệp, du lịch, ngày nay ở mỗi nước có khoảng 100.000 người của nước kia sinh sống, lao động, kinh doanh, trong đó có trên dưới 45.000 gia đình Việt – Hàn.

Xem như vậy có thể nói nhân dân hai nước không chỉ cộng tác mà còn cộng sinh, thậm chí giữa nhiều gia đình Việt Nam và Hàn Quốc còn hòa quyện huyết thống nữa! Truyền thống do Hoàng tử Lý Dương Côn, con Vua Lý Nhân Tông và Hoàng tử Lý Long Tường, con Vua Lý Anh Tôn của Việt Nam sang định cư trên bán đảo Triều tiên và có nhiều đóng góp cho đất nước Cao Ly từ 8 thế kỷ trước xem ra đang được tiếp nối.

Người ta hay gọi sự phát triển của Hàn Quốc là “kỳ tích Sông Hàn”, còn sự phát triển của Việt Nam trong ¼ thế kỷ Đổi Mới có người coi là “kỳ tích sông Hồng và sông Cửu Long” thì sự phát triển thần kỳ của mối quan hệ Việt – Hàn chuyển từ đối kháng sang đối tác chiến lược có thể gọi là “Kỳ tích Thái Bình Dương”.

Ngày nay, quan hệ hợp tác Việt - Hàn đang bước vào thời kỳ mới với nhiều nét mới. Dựa trên những kinh nghiệm hợp tác và những thành quả đã thu lượm được trong 20 năm qua, tính đến những diễn biến mới ở mỗi nước và trong khu vực, để hiện thực hóa và củng cố mối quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược” trước mắt sẽ nảy sinh một số cách tiếp cận mới như:

Một là, sự hợp tác kinh tế - thương mại nên đi cả “hai chân”: vừa nâng cao chất lượng, vừa gia tăng độ liên kết. Về chất lượng hợp tác nổi lên hai vấn đề. Đó là cân bằng hơn sự hợp tác, trong đó có vấn đề Việt Nam nhập siêu quá lớn – một vấn đề đã lưu cữu từ lâu. Tiếp đến là chuyển dịch cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam theo hướng giảm bớt công nghiệp gia công cũng như các công nghiệp tiêu hao năng lượng và gây ô nhiễm môi trường, gia tăng công nghiệp phụ trợ để cung cấp cho công nghiệp Hàn Quốc ở trong và ngoài nước đi đôi với việc gia tăng công nghiệp chế tạo và công nghệ cao.

Một yêu cầu mới nữa là khởi động và thúc đẩy cuộc đàm phán về việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do, nâng cao tầm hợp tác lên mức liên kết (connectivity), tạo nên sự bổ sung, lồng ghép của hai nền kinh tế chứ không chỉ dừng lại ở mức trao đổi.

Hai là, trước những diễn biến vừa có nhiều thuận lợi, vừa ẩn chứa không ít thách thức ở châu Á – Thái Bình Dương thì yêu cầu nâng cao hơn nữa mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược về chính trị giữa hai nước càng cần hơn bao giờ hết để góp phần hữu hiệu cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực.

Ba là, nhân dân hai nước không chỉ cộng tác mà còn cộng sinh nên sự hợp tác văn hóa ngày càng có ý nghĩa. Sự hiện diện văn hóa Hàn Quốc ở Việt Nam ngày càng lan tỏa, từ điện ảnh, nghệ thuật tới ẩm thực, thời trang…, song tiếc rằng sự hiện diện của văn hóa Việt Nam ở Hàn Quốc còn rất mờ nhạt. Hy vọng rằng, những người làm văn hóa và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều nỗ lực thiết thực để gia tăng sự hiện diện của văn hóa Việt Nam ở Hàn Quốc nhằm góp phần làm cho nhân dân Hàn Quốc hiểu biết nhiều hơn về Việt Nam.

Vũ Khoan
Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ



 


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]





    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ