BÀI CHỦ Thứ Năm, 03/07/2008-2:16 PM
Dồn điền đổi thửa: Sách lược của tương lai
LTS: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trong thời toàn cầu hóa thị trường. Trong bối cảnh hiện nay, không còn sự lựa chọn nào khác, dồn điền đổi thửa là hướng đi tất yếu để đưa nền nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ thực sự trở thành một ngành sản xuất hàng hoá, quy mô lớn. Hơn 10 năm dồn điền đổi thửa, từ ý tưởng manh nha ban đầu rồi trở thành chủ trương lớn, từ nỗ lực vượt qua nhiều quan ngại, đến lúc đạt được những thành quả bước đầu, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của những vùng chuyên canh lớn. Tuy vậy, xung quanh nó vẫn còn không ít vấn đề...


Thời hội nhập, nông dân có 3 cái được. Thứ nhất, thị trường nông sản rộng mở, hàng hóa có thể bán trong nước và 149 thành viên khác trong WTO. Thứ hai, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng mạnh, đặc biệt là vào lĩnh vực nông nghiệp, nhờ vậy sẽ thúc đẩy nhanh nền nông nghiệp nước nhà. Thứ ba, bà con nông dân sẽ có dịp tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới ngày càng nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rộng hơn.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, dù khoa học kỹ thuật hiện đại có cung cấp những giống cây – con mới, thì cũng khó có thể làm thay đổi cục diện nền nông nghiệp lạc hậu và bộ mặt chậm phát triển của nông thôn Việt Nam. Một nền sản xuất nông nghiệp đang ở trình độ thấp, cách làm manh mún, tư tưởng tiểu nông..., nguy cơ trên sẽ đẩy nền nông nghiệp đi xuống, đến mức không đủ sức cạnh tranh. Vì vậy, phải có những “luồng sinh khí mới” mới có thể làm “thay da đổi thịt” cho khu vực có tới 2/3 dân số đang sinh sống này. Chính vì thế, việc tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất để “làm ăn lớn” là xu hướng tất yếu và là sự vận động đúng quy luật, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển.

Khoán hộ… hết thời

Thực hiện Nghị định 64 của Chính phủ, Khoán 10 với cách làm cơ bản là “có ruộng tốt, ruộng xấu, có gần, có xa, có cao, có thấp” phần nào đã tạo sự công bằng trong việc giao đất cho nhân dân sản xuất ổn định lâu dài. Nhưng chính tư tưởng “hoa thơm mỗi người hưởng một tí” là thủ phạm khiến ruộng đất Việt Nam bị chia ra khoảng 75 triệu thửa, tức là bình quân mỗi hộ gia đình sẽ có khoảng 6,8 thửa đất.

Thời mới, chúng ta hô hào quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, lập các trang trại và vận động nông dân sản xuất theo hướng hàng hóa. Song thực tế ruộng đất ở nông thôn, miền núi mỗi hộ đều có năm, bảy mảnh đầu làng cuối xã, thổ nhưỡng khác nhau, rất manh mún, làm sao có thể sản xuất được chuyên canh cây trồng với số lượng lớn, cây có giá trị kinh tế đủ tiêu chuẩn về chất lượng, giá thành hạ… đáp ứng yêu cầu thị trường và tham gia xuất khẩu? Hơn nữa, chính sự manh mún còn làm giảm 2,4-4% diện tích đất nông nghiệp do các bờ ngăn bờ thửa (chỉ tính riêng tỉnh Hưng Yên, sau khi dồn điền đổi thửa (DĐĐT), đất nông nghiệp đã tăng thêm 3.309ha). Ruộng đất manh mún còn làm tăng phí lao động, hạn chế khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Hạn chế khả năng cơ giới hóa và hiện đại hóa nông nghiệp.

Tất nhiên, không thể phủ nhận những gì mà Khoán 10 đã làm được. Vì nếu coi DĐĐT là sách lược lâu dài để nông nghiệp nước nhà phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu, thì Khoán 10 là người đi tiên phong đột phá, vực dậy tiềm năng vốn đang “ngủ lười” của nền nông nghiệp Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi từ nền sản xuất nông nghiệp theo cơ chế tập trung, bao cấp do Hợp tác xã nông nghiệp quản lý, sang cơ chế mới với việc lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp phát triển, góp phần đáng kể vào việc tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân và vực Việt Nam từ nước nhập khẩu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới.

Nhưng để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh trong tương lai thì lại cần phải phấn đấu loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ. Công tác DĐĐT rất quan trọng, tạo “bước đệm” để sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị, tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng, khai thác hết tiềm năng của mỗi địa phương. Nhưng nếu chỉ làm bằng khẩu hiệu mà không có những giải pháp cụ thể, kịp thời thì mục tiêu sẽ khó thành hiện thực. Và nếu không đẩy mạnh việc quy hoạch, DĐĐT, thay đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất hàng hóa quy mô lớn thì công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp vẫn chỉ nằm trên “bàn giấy”.

Cấp bách lắm rồi !

Việc Dồn điền - tích tụ ruộng đất ở các nước phát triển, có nền sản xuất lớn đã trở thành “điển hình” tạo cho họ thành tựu lớn trong ứng dụng công nghệ, tiến bộ KHKT, cho năng suất, chất lượng tốt. Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng đồng thời là nước có nền sản xuất nông nghiệp lớn. Không những thế, đây còn là quốc gia được đánh giá cao nhất thế giới về “nền văn minh trang trại”. Nông nghiệp của họ trở thành ngành kinh doanh lớn nhất thế giới hiện nay.

Theo con số thống kê năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại, quy mô 67 ha/trang trại. Đến năm 1990, Mỹ tiếp tục dồn đất, tích tụ tư liệu sản xuất, đưa nền sản xuất nông nghiệp nước này còn 2,2 triệu trang trại có quy mô 190 ha/trang trại. Trong giai đoạn trên, số lao động nông nghiệp giảm từ 12,5 triệu người xuống 1,2 triệu người vào cuối năm 1990. Hiện nay, số lao động nông nghiệp của Mỹ chỉ còn khoảng 2% trong số lao động làm ở các trang trại nông nghiệp, nhưng họ cũng chỉ lao động một thời gian rất ngắn, nhờ hiện đại hóa các quá trình sản xuất.

Sẽ còn quá sớm để chúng ta mơ đến những cách làm nông nghiệp “hoành tráng” của họ. Vì không nói đâu xa, theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, đến năm 2006, sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam liên tục bị sụt giảm, trong khi nước láng giềng Thái Lan đứng ở vị trí 30 trên thế giới, thì Việt Nam lại đứng thứ 70 đến 80. Như vậy, ngay cả đối với “anh bạn hàng xóm” - đối thủ cạnh tranh số 1 trên lĩnh vực xuất khẩu nông sản, Việt Nam cũng còn phải nỗ lực rất nhiều mới có thể theo kịp. Bởi vì, vấn đề CNH và HĐH nông nghiệp để tăng năng suất và tăng cường khả năng cạnh tranh cho ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn đang là một bài toán khó.

Những vấn đề, vừa bức xúc vừa mãn tính của nền nông nghiệp Việt Nam là: thiếu vốn đầu tư, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún công nghệ lạc hậu, năng suất, độ đồng đều, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng hợp tác liên kết của nông dân còn rất yếu. Dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn không theo kịp với đà tăng trưởng kinh tế của toàn xã hội. Việc cải cách hành chính chuyển đổi cơ cấu thể chế còn chậm, môi trường pháp lý đầu tư kinh doanh còn nhiều bất cập, thị trường đất, lao động, vốn, công nghệ chưa vận hành một cách thuận lợi… Những con giống, cây giống sẽ sớm thoái hóa nếu không có những con giống, cây giống mới mạnh hơn, tốt hơn thay thế. Cơ khí hóa và tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp sẽ không thể áp dụng nếu ruộng vườn còn manh mún, trình độ học vấn của nông dân còn thấp và không được sự tài trợ hiệu quả của hệ thống tín dụng. Nhà nông, nhà vườn luôn có yêu cầu chính đáng là được tiếp cận trực tiếp với thị trường thế giới. Nhưng nếu không biết ngoại ngữ, thiếu kiến thức quản trị kinh doanh, tiếp thị, không hiểu rõ nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu, làm sao họ có thể thực hiện được mong muốn của mình một cách thành công?

Cuối cùng, với nền tảng nông nghiệp, chúng ta cũng cần xây dựng một cơ chế thị trường hoàn chỉnh, không những chỉ trên thực tế mà còn được xác nhận bởi Hiến pháp và luật pháp. Vì, sẽ vẫn còn bất lợi cho nhà nông, nhà doanh nghiệp khi Việt Nam đã là thành viên WTO nhưng vẫn bị xem là một nền kinh tế phi thị trường. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các thành viên mới luôn luôn phải chấp nhận các điều kiện bất lợi hơn các thành viên cũ để được gia nhập. Nhưng chúng ta cũng không thể mãi đứng ngoài cuộc chơi mậu dịch toàn cầu, chấp nhận làm người buôn bán lẻ ngoài chợ quốc tế với những điều kiện thương mại còn bất lợi hơn nhiều.

Được và chưa được

Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh là một trong những nơi thí điểm DĐĐT, năm 2003, từ 15 thửa ruộng/hộ đã được rút xuống còn 5 thửa. Ngay sau khi dồn điền, trên địa bàn huyện đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa lớn. Vậy nhưng, sau 2 năm, người ta đều nhận ra rằng, để sản xuất hàng hóa lớn không thể tiếp tục khoác một cái áo quá chật. Và mong muốn của hầu hết nông dân Bắc Ninh là dồn lại còn 1 hoặc 2 thửa, kèm theo đó là quy hoạch lại ruộng đồng bài bản với hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng tiện lợi.

Mặc dù chưa được như mong đợi, nhưng Bắc Ninh hiện đang là tỉnh dẫn đầu trong công tác DĐĐT, hoàn thành chuyển đổi ở 95.922 hộ gia đình (50%) được 16.414ha (37%). Nhờ đó, tỉnh đã khắc phục được tình trạng ruộng đất manh mún, bước đầu hình thành vùng chuyên canh các loại cây trồng có giá trị kinh tế, việc đầu tư thâm canh, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn. Nhiều mô hình kinh tế mới đã xuất hiện, không chỉ khai thác tốt tiềm năng mà còn góp phần nâng cao thu nhập, tạo việc làm cho người nông dân. Điển hình như vùng khoai tây ở Việt Hùng, Quế Tân (Quế Võ) đạt doanh thu 45-55 triệu đồng/ha/vụ; chuyên rau ở Hòa Đình (TP. Bắc Ninh) đạt 160-170 triệu đồng/ha/năm; hoa, cây cảnh ở Phú Lâm (Tiên Du) trên 200 triệu đồng /năm; đặc biệt mô hình trồng hoa công nghệ cao ở Đình Bảng (Từ Sơn) cho doanh thu khoảng 500 triệu đồng/ha/năm...

Những gì ghi nhận ở Bắc Ninh cho thấy, việc dồn đổi đất đai để tạo tiền đề sản xuất hàng hóa lớn, đang lên cao trào. Nhiều địa phương khác thấy thế mà “sợ”, sợ vướng luật, sợ mất ổn định xã hội và còn “sợ cả trách nhiệm nặng nề”. Bởi vậy, mới có những cách làm “nặng về hô hào” khiến tiến độ đạt được dường như “giẫm chân tại chỗ”.

Trên lý thuyết thì Hà Tây thực hiện DĐĐT khá bài bản. Ngoài công tác tuyên truyền, vận động, tỉnh yêu cầu từng cơ sở xây dựng đề án chuyển đổi ruộng đất ở tất cả xã, thôn, xóm; tổ chức cho các hộ có ruộng học tập, thảo luận, góp ý trước khi đề án được phê duyệt; tổ chức giao ruộng tại thực địa cho các hộ dân và bước cuối cùng là tổ chức sản xuất trên diện tích chuyển đổi. Về cơ chế, chủ trương của UBND tỉnh là sử dụng ngân sách tỉnh hỗ trợ 40%; ngân sách huyện, thị hỗ trợ 40% chi phí DĐĐT cho các xã không cân đối được ngân sách. Với bài bản như vậy, nhưng đáng tiếc, tiến độ DĐĐT trong kế hoạch thực hiện đến cuối năm 2007 của Hà Tây mới đạt 28%.

Điều không bình thường ở đây là, mặc dù có khá nhiều điển hình làm tốt DĐĐT trên địa bàn tỉnh, đã không được nhân rộng. Theo ông Chu Văn Thưởng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây, 4 nguyên nhân dẫn đến tốc độ “rùa bò” trong DĐĐT cần khắc phục là: công tác tuyên truyền, vận động dân chưa đủ sức thuyết phục; lãnh đạo nhiều xã, thị trấn còn thụ động, ngại va chạm, mặc cho cơ sở tự xoay xở; một bộ phận hộ nông dân chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu tất yếu về việc phải thay đổi tập quán canh tác, ngại xáo trộn đất đai, từ đó “ngụy biện” hạn giao đất sản xuất nông nghiệp sau năm 2013 “hết hiệu lực” dẫn đến tình trạng ngáng trở việc DĐĐT.

Còn nhiều việc phải làm

Nền kinh tế Việt Nam đã thực sự hội nhập sâu trong nền kinh tế thế giới. Tức là sự cạnh tranh trong sản xuất ngày càng được đẩy lên cao. Việc DĐĐT, tích tụ ruộng đất đối với nền sản xuất nông nghiệp hơn lúc nào hết rất cần được chỉ đạo quyết liệt, làm cho được. Có như vậy, chúng ta mới đi đến chuyên canh sản xuất được, đưa máy móc, thiết bị hiện đại, đi cùng việc ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, tạo ra hướng làm ăn mới theo phương thức sản xuất hàng hóa. Bởi vì, sản xuất thời hội nhập là làm ra các sản phẩm hàng hóa tốt, giá thành thấp và quan trọng hơn là làm ra “cái mà thị trường cần” chứ không thể chỉ làm ra “cái mình có”.

Sản xuất hàng hóa không thể không đi kèm với tích tụ ruộng đất, vấn đề chỉ là chọn mô hình nào để giảm thiểu “tổn thương” cho nông dân. Không nên quá cầu toàn, nhưng cũng không thể nóng vội theo những mô hình ở các nước phát triển, khi một nông hộ của họ có thể sở hữu hàng trăm hécta đất, từ sản xuất đến chế biến theo quy trình khép kín. Bởi quy mô sản xuất cần phù hợp với trình độ lao động, cơ giới hóa, quản lý của người nông dân.

GS. Nguyễn Lân Dũng cho rằng, để trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020, lao động nông nghiệp phải giảm xuống chỉ còn 23%, phải chuyển khoảng 50% lao động nông nghiệp hiện nay sang các ngành kinh tế khác, đi đôi với tích tụ đất đai để có thể cơ giới hóa các khâu canh tác và thu hoạch. Ngoài ra, chính sách đất đai phải tạo điều kiện và thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện có và khai thác nhanh đất hoang hóa vẫn đang chiếm một diện tích lớn. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, nâng cao trình độ công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch. Chú trọng phát triển mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cả trong và ngoài nước. Nhân rộng các mô hình liên kết kinh tế hộ nông dân, các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã, nông - lâm trường, kinh tế trang trại gắn với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ.

Nông nghiệp là nguồn sinh kế chính của hơn 60% dân số Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 2/3 hộ gia đình. Trong bối cảnh hội nhập WTO, nông nghiệp nước ta có thể có thêm nhiều cơ hội phát triển hay không, phụ thuộc lớn vào phương thức sản xuất, trong đó công tác DĐĐT là trọng tâm. Càng “vươn ra biển lớn”, tư duy toàn cầu trong điều kiện đặc thù của Việt Nam càng cần được xác định rõ ràng: giải quyết tốt bài toán phát triển nông thôn chính là đặt một tay vào chiếc chìa khóa vàng “phát triển bền vững” cho cả nền kinh tế, trên một tầm cao mới.

Ths. Thanh Trúc


In bài này Gửi bài viết
Ý kiến của bạn
Tên của bạn:  
Email của bạn:  
Tệp đính kèm:
Tiêu đề:  
Nội dung:  
    [ Các bài mới ]
    [ Các bài đã đăng ]






    Đầu tư vào giáo dục là chính sách thương mại tốt nhất Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo vì tương lai châu Á
    Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp phát triển Diễn đàn kinh tế mùa xuân – Động lực phát triển mới từ cải cách thể chế
    Các chuyên gia đánh giá cao sự phát triển kinh tế Việt Nam “Mầm xanh mới nhú” trong nền kinh tế
    Ngoại giao kinh tế đi vào thực chất EU tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN
    Đánh thức Vân Đồn Kinh doanh xanh – chủ đề mới của các thương hiệu mạnh
    Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ