[ In bài ] [ Trở về ]
Hiểu bàn cờ thế giới, tạo thế đứng, nắm thời cơ
 (Thứ Sáu, 29/08/2008 - 11:50 AM)
Nhóm tình báo Con Nai thuộc OSS nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7/1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh phát xít Nhật (Trong Chiến tranh thế giới thứ II (1939-1945) là sự kiện quốc tế lớn trong thế kỷ XX. Vận mệnh tất cả các dân tộc, trong đó có Việt Nam, liên quan mật thiết với tiến trình kết cục của chiến tranh. Bởi vậy, đặc điểm lớn nhất của tiến trình và thắng lợi của cách mạng tháng Tám về mặt quốc tế là nó gắn bó chặt chẽ với diễn biến của tình hình thế giới.


Trong những năm chiến tranh thế giới, Nguyễn Ái Quốc và Ban lãnh đạo, trong điều kiện khó khăn về thông tin, nghiên cứu, đã cố gắng nắm sát bàn cờ thế giới để có những nhận định kịp thời và những chủ trương thích hợp.

Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới nổ ra, Trung ương có một nhận định bao quát: chiến tranh lần này sẽ làm cho trật tự (thế giới) cũ lay chuyển tận gốc và ra nghị quyết thành lập “Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương”. Khi Pháp đầu hàng Hitler, Nguyễn Ái Quốc đang ở Hoa Nam có ngay nhận định: “Việc Pháp mất nước là cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ, chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.

Từ đó, Người về nước, chủ trì hội nghị TƯ lần thứ 8, chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, xác định chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và dân tộc. Cùng với việc quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh và các chính sách đối nội, Hội nghị cũng đề ra những nguyên tắc chính sách đối ngoại lớn, cơ sở ngoại giao của Việt Nam DCCH bốn năm sau.

Tháng 12/1941, chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra. Trung ương có ngay thông cáo “Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng”, nhận định dứt khoát: Nhật gây chiến tranh Thái Bình Dương là tự sát. Nhật sẽ bị Anh, Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô đánh bại. Từ đó, đề ra các chính sách đối ngoại lớn và đối sách trực tiếp với các nước lớn trên tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường.

Tháng 2/1943, quân đội Xô Viết đại thắng tại Stalingrad, bước ngoặt của chiến tranh thế giới. Thường vụ TƯ họp ở Võng La (Vĩnh Phúc) từ 25 đến 28/2/1943, bàn các biện pháp đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa, đưa đấu tranh cách mạng lên cao trào, chủ trương mở rộng Mặt trận dân chủ chống Nhật ở Đông Dương.

Cách mạng phát triển, nhưng vẫn chưa có quan hệ quốc tế. Trước tình hình đó, cuối năm 1944, lần thứ hai Hồ Chí Minh xuất chinh làm ngoại giao (lần trước, tháng 8/1942, Người sang Hoa Nam, bị chính quyền Quốc dân đảng bắt giữ, chuyến đi không thành). Lần này, Người sang Côn Minh, gặp Tư lệnh Không đoàn 14 của Mỹ, tìm hiểu ý đồ của Mỹ và đặt cơ sở cho việc phối hợp giữa Việt Minh với các lực lượng đồng minh để chống Nhật ở Việt Nam. Trong thư gửi đồng bào toàn quốc (tháng 10/1944), Hồ Chí Minh viết: “Nhân dịp ở nước ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách các hữu bang… Các đồng minh quốc sắp giành được thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa”.

Tháng 3/1945, Nhật làm đảo chính lật Pháp. Hội nghị Thường vụ TƯ mở rộng họp ở Đình Bảng (Bắc Ninh), chuyển khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật Pháp” thành “Đánh đuổi phát xít Nhật” (12/3/1945), bàn đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa, xây dựng khu căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang.

Theo dõi sát diễn biến trên các mặt trận, Hồ Chủ tịch và TƯ sớm tính đến việc họp Hội nghị toàn quốc của Đảng và đại hội quốc dân. Nhờ vậy mà được tin Nhật đầu hàng, ngày 13/8/1945, Hội nghị toàn quốc đã họp và phát động lệnh tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân họp, cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng (tức Chính phủ lâm thời), đưa cách mạng tháng Tám đến thành công.

*

Việc theo sát và nắm chắc bàn cờ quốc tế suốt mấy năm chiến tranh thế giới đã đưa đến những điều kiện đảm bảo cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi. Đó là, chúng ta đã gắn cách mạng Việt Nam với các trào lưu cách mạng, tiến bộ trên thế giới: cách mạng giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ mới, cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng Việt Nam có thế đứng là một bộ phận của Mặt trận dân chủ chống phát xít, lực lượng chủ yếu quyết định vận mệnh thế giới lúc bấy giờ. Điều này tạo cho ta thế hợp pháp trên quốc tế để giao thiệp với các nước Đồng minh. Hồ Chí Minh gặp đại diện của Mỹ, Tưởng và Hoa Nam chính là với tư cách đó.

Việc nắm sát bàn cờ thế giới, hiểu các nước lớn, hiểu rõ Pháp, Nhật…, giúp chúng ta sớm xác định đúng phương hướng chính sách đối ngoại của cách mạng, của Mặt trận Việt minh.

Ngay từ năm 1941, khi nổ ra chiến tranh Thái Bình Dương, thấy trước Nhật nhất định bị đánh bại, TƯ đã trù tính đối sách với các nước lớn. “Nếu Hoa quân nhập Việt, phong trào kháng chiến sẽ giao thiệp với quân đội Trung Hoa để kháng Nhật”, nhưng “chúng ta không ảo tưởng quân Trung Quốc và Anh, Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta. Ta có mạnh họ mới “đếm xỉa”; ta yếu thì ta chỉ là công cụ trong tay người khác”. Từ những trù liệu ban đầu đó, Hồ Chí Minh và Ban lãnh đạo tiếp tục bổ sung, mở rộng các quan điểm, chính sách đối ngoại của cách mạng: thêm bạn, bớt thù, tập hợp đồng minh, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, lợi dụng mâu thuẫn giữa Mỹ - Tưởng với Anh - Pháp, tránh trường hợp phải đối phó với nhiều kẻ thù cũng một lúc… Đó là cơ sở chính sách đối ngoại của cách mạng thời kỳ chuẩn bị giành chính quyền và thời kỳ đầu của nước VNDCCH.

Thành công quan trọng nhất của việc nắm bàn cờ thế giới là việc này đã giúp chúng ta tính toán bước đi, thời cơ của cách mạng. Chính nhờ nắm vững các nhân tố quốc tế mà Hồ Chí Minh và Ban lãnh đạo đã trù liệu những nước cờ lớn để xây dựng lực lượng, phát triển lực lượng bên trong cho kịp thời cuộc...

Hiểu thế giới, gắn Việt Nam với thế giới luôn là bài học lớn của Ngoại giao Việt Nam.

Nguyễn Khắc Huỳnh
Nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao

Trang chủ Giới thiệu Liên hệ tòa soạn Liên hệ quảng cáo Đặt làm trang chủ